Trung tâm Phát triển  Nông Thôn Tây Nguyên

Trung tâm Phát triển Nông Thôn Tây Nguyên

  • 0914067495 - 02623.798798
  • taynguyencen@tncrd.ord
    • Banner
    • Thao nguyen xanh nie
    • Thao nguyen xanh

    CÒN KHÔNG, VĂN HỌC CỔ TRUYỀN TÂY NGUYÊN?

  • 10/05/2022
  • lượt xem : 45
    Chia sẽ :

               Có ai kiểm kê đã từng có bao nhiêu tập truyện cổ tích, tuyển tập Lời nói vần, Thành ngữ, Tục ngữ dân gian Tây Nguyên được các nhà xuất bản ấn hành? Chắc chắn số lượng cũng hàng trăm. Kho tàng quý và đồ sộ thế, nay còn không? Còn ở đâu? Làm thế nào gìn giữ bảo tồn Di sản quý giá ấy??
               Vào những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà sưu tầm văn hóa đến Tây Nguyên vẫn còn có thể bắt gặp một đêm nào đó những cuộc tụ hội trên nhà rông hay nhà sàn ảo mờ khói bếp, ánh lửa bập bùng chẳng soi tỏ mặt người. Chỉ có vang vang trong bóng đêm khô nóng hay se se lạnh ấy, tiếng bổng  khi vui, giọng trầm khi buồn, lúc cuồn cuộn bốc lên như con sóng chợt chồm qua đá tảng, khi lắng xuống như dòng thăm thẳm sâu của con sông Sê San hay Srêpok thao thiết rời mảnh đất cao nguyên đỏ au đất đỏ, chảy về hướng  mặt trời lặn. Lúc là câu hát, lúc lời ê a, kể về những chàng dũng sỹ Dam San, Dăm Noi, Dông Dư hay Tiang …dũng cảm có cánh tay khỏe như bắp chân gấu cuồn cuộn.  Về những nàng H’Nhi, H’Bhi , Bia Phu …đẹp như ánh mặt trời khiến hoa rừng cũng nói lời chào thua…Đã có những đêm dưới mái nhà tranh nơi chân núi Lang Biang, lặng nghe tiếng nói trầm sâu trong bóng đêm của người nghệ nhân già, kể câu chuyện ngụ ngôn K’Ho về các loài vật thay cho lời răn dạy lối đối nhân xử thế. Có những tối cuộn mình trong tấm thổ cẩm bên bếp lửa Mnông, lắng nghe để nhớ cốt chuyện cổ tích người mẹ thánh thót kể cho con phía bên kia sạp giường, về những kẻ ác mà đần độn, người nghèo nhưng thông minh.Có những ngày khép chặt vạt áo ngăn gió, tay sổ tay bút hối hả chép ghi những câu chuyện cổ thực hư của người Rmam….
                    Năm 2007, khi tổng kết giai đoạn đầu của chương trình “ Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên”  đã có tên gọi 801 tác phẩm của 7 dân tộc thiểu số ở Trường sơn Tây Nguyên. Thật sững sờ về mức độ số lượng gần như khổng lồ, định lượng gần như phổ biến chỉ ở 5 tỉnh Tây Nguyên nói riêng. Hội thảo Khoa học Quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột, khẳng định Tây Nguyên là vùng duy nhất trên thế giới có được kho tàng sử thi nghệ thuật kép văn học – âm nhạc độc đáo, đồ sộ đến như thế.
    1.Văn học cổ truyền Tây Nguyên, kho tàng tư liệu quý báu
    Nếu trường ca, sử thi là những câu chuyện dài bằng văn vần, được trình bày bằng hình thức hát – kể, phản ánh mọi phong tục, tập quán, đời sống xã hội, mọi mối quan hệ trong và ngoài buôn, bon, kon, plei; giúp hình dung được một không gian xã hội Tây Nguyên thấm đẫm tình nhân ái và lung linh ánh lên những đặc trưng văn hóa rừng độc đáo. Thì, cổ tích Tây Nguyên cũng phản ánh đầy đủ nhịp sống của buôn làng qua các phong tục, tập quán sinh hoạt, lề lối ứng xử, thưởng phạt phân minh, ràng buộc mọi thành viên của cộng đồng; cuộc chiến giữa các bộ lạc, giữa cái thiện và ác để bảo tồn sự sống, bảo vệ con người, của cải, đất đai của gia đình, dòng họ; phương thức canh tác lúa rẫy, ý thức trách nhiệm của mỗi con người phải bảo vệ gia đình, cộng đồng, xã hội và cả với thiên nhiên ở xung quanh; khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên nghe tiếng lốc cốc mõ trâu, bò lang thang giữa bóng đêm núi rừng …
    Với trí óc hồn nhiên, trong sáng, dân gian sáng tạo nên những câu chuyện của những nhân vật biết quên mình vì cộng đồng , như  sự ra đời của một dòng sông mênh mang sóng, do cô gái  H’Năng, quyết tâm đi tìm nguồn nước cho buôn làng ( Sự tích dòng sông Krông Năng). Một ngọn núi chất ngất mây vờn đỉnh ( Sự tích núi Ngok Linh) , hay cánh rừng đại ngàn đầy bí ẩn của thiếu nữ H’Lâm (Truyền thuyết  núi Cư H’Lâm) xóa bỏ lời nguyền để mãi mãi gái trai các buôn làng được tự do yêu thương. Hay  nàng H’Linh, H’Ly ( Huyền thoại thác Drei H’Linh, Sự tích thác Ia Ly) quyết đằm mình dưới dòng thác dữ cho những mối tình không phân biệt sang nghèo.Thú vị không khi nghe người Mạ kể rằng “ họ tìm thấy những chiếc ching trên một cánh đồng, nên gọi đó là Cánh đồng ching - Srê gong – bây giờ người Kinh gọi chệch đi là Sài Gòn”? …Mỗi bước chân đi ở Tây Nguyên đều có thể bắt gặp những cổ tích, truyền thuyết hư ảo, lung linh, làm đẹp thêm mảnh đất, con người vốn rất hồn hậu, thân thương của vùng cao nguyên bazan đỏ.
    Hình dung mà xem, những đứa trẻ “ da nâu mắt sáng” tóc xoăn tít cháy khét nắng, sau một ngày  lăn lóc theo mẹ lên rẫy, rảo theo gót chân cha vào rừng đại ngàn, đêm đến quây quần bên bếp lửa, mùi khoai lang, củ mì hay bắp nướng thơm lừng, khói bếp bay trùm bảng lảng, quện vào tiếng bổng , tiếng trầm của ông, của bà, kể đêm này qua đêm khác trong tiếng lách cách khung dệt của mẹ, những câu chuyện cổ xưa của tộc người. Để rồi chìm dần vào trong giấc ngủ, bé gái mơ trở thành  những nữ tù trưởng H’Bia Blao, Bia Rang Hu, H’Nhi… không chỉ xinh đẹp, mà còn có tấm lòng tràn đầy yêu thương. Bé trai thấy mình lớn bổng lên như dũng sỹ Đam San, Jing Chơ Ngă, Đăm Noi… bắt nữ thần Mặt trời về xua tan bóng đêm bao phủ nơi buôn làng. Những giấc mơ hướng thiện cao đẹp đến từ những câu chuyện cổ, không chỉ  mang theo ước mơ, tiếng cười, niềm vui, sự thư giãn đến cho con người, mà còn là sự răn dạy một cách êm ái, thấm thía, khắc ghi, theo suốt cuộc đời một con người .
    Một loại hình văn học truyền miệng khác cũng phổ biến không kém trong đời sống cộng đồng, đó là lời nói vần,luật tục bằng văn vần. Là những kinh nghiệm sản xuất, đoán xem thời tiết, những lời răn dạy đối nhân xử thế trong mọi mối quan hệ vợ chồng, cha mẹ,  gia đình, cộng đồng làng buôn và xã hội. Là lời cúng khẩn cầu , mời gọi thần linh, lời phán xử theo luật tục, câu hát tự sự thấm đẫm nỗi niềm hay lời đối đáp nhịp nhàng, giao duyên gái trai…
    Đêm này qua đêm khác, bên ánh lửa bập bùng của nhà sàn, kho tàng kiến thức quý báu của tộc người được trao truyền, để cháu con hiểu về dân tộc, về văn hóa, thậm chí chỉ để yêu thương đến thảng thốt một miền quê mà hình bóng ngày mịt mờ xa. Đó cũng là một trong những nét đặc trưng riêng của “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên–  Di Sản văn hóa đại diện của nhân loại ” đấy chứ. Chính vì vậy mà là một Di sản văn hóa các cộng đồng tộc người cũng như Nhà nước cần phải chung tay  bảo tồn.
    2.Bảo tồn văn học dân gian cổ truyền, việc làm không dễ
           Từ những năm đầu đất nước mới được độc lập, các nhà khoa học đã quan tâm đến việc sưu tầm và công bố những áng văn học cổ truyền của các tộc người thiểu số, trong đó có Tây Nguyên. Những Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Tuyển tập trường ca Tây Nguyên của các tác giả Y Điêng, Y Yung, Kơsor BLiu cùng Ngọc Anh đã tập hợp và công bố các tác phẩm sử thi : Xing Nhã, Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Droan, Y Ban, Y Brao...
           Chỉ tính từ vài năm trở lại đây, một số nhà khoa học ở Tây Nguyên cũng đã tập trung vào việc sưu tầm văn học cổ truyền các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Tại Đăk Lăk Tiến sỹ Buôn Krông Tuyết Nhung ghi lại nội dung lời nói vần trong các làn điệu hát K’ưưt, Bảo tàng cho ra mắt tập chuyện cổ tích, Sở Văn hóa TT&DL xuất bản tập Lời nói vần Ê Đê. Ở Gia Lai, Thạc sỹ Nguyễn Quang Tuệ cũng phát hành tập Câu đố Bâhna…thật ít ỏi và đều là những công trình đã mất rất nhiều năm tháng điền giã trước đó để thực hiện. Tỷ lệ sưu tầm mới quá ít.     
       Cuối năm 2017, điền giã sưu tầm văn học truyền miệng của tộc người Rmam, ở xã Mo Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Trong hàng chục người nhiều lứa tuổi được lựa chọn, tỷ lệ còn nhớ chuyện cổ tích gần như bằng không; trường ca không có, lời nói vần cũng không còn được bao nhiêu. May mắn lắm mới tìm được hai cụ ông và hai phụ nữ thi thoảng về đêm vẫn kể cho con nghe truyền thuyết về tộc người, để ghi lại vài chuyện cổ tích, một số câu nói vần. Năm 2018, Nhà xuất bản giáo dục phát hành cuốn 100 chuyện cổ tích song ngữ  Việt – Ê Đê  do nhóm nữ trí thức dân tộc Ê Đê tuyển chọn và dịch thuật, không phải mới sưu tầm.
             Trẻ em cấp I, II vùng dân tộc, miền núi vẫn hết sức thiếu thốn sách truyện song ngữ để góp phần giáo dục phát triển trí tuệ và giải trí. Các bộ sử thi đồ sộ bằng song ngữ đã xuất bản, chỉ được phát hành đến các thư viện tỉnh, không thể đến buôn, bon, kon, plei, thậm chí trí thức người dân tộc có muốn tiếp cận để tham khảo cũng khó. 
       Đó là trong việc sưu tầm, còn thực tế, đã từ hàng chục năm nay, việc hát - kể trường ca, sử thi, các hoạt động khác như kể chuyện cổ tích, vận dụng lời nói vần để răn dạy con cháu, vận dụng Luật tục để phân xử trong đời sống ở các buôn, bon, kon, plei hầu như  vắng bóng. Nhất là hát – kể  sử thi, vắng mặt trong cộng đồng đã tròm trèm 40 năm. Đã từng có 06 lớp truyền dạy theo hình thức  truyền miệng  hát – kể sử thi của 6 tộc người, kết quả được coi là khả quan, khi các học viên thuộc nằm lòng các sử thi được học. Nhưng họ có thể kể ở đâu cho cộng đồng thưởng thức? hay chỉ kể lại theo yêu cầu của các nhà sưu tầm thế hệ đến sau ?   
              Tới Tây Nguyên hiện tại, không thể tìm được ở bất cứ địa phương nào, những cuộc tụ tập để nghe kể chuyện cổ tích, răn dạy luật tục, cũng chẳng còn ở đâu đêm đêm ông bà hay mẹ kể con nghe chuyện ngụ ngôn nào đó về các loài vật…
               Có rất nhiều nguyên nhân để kho tàng văn học cổ truyền độc đáo và giàu có ấy luôn luôn tiềm ẩn khả năng biến mất khỏi đời sống cộng đồng.
    - Trước tiên là việc đổi thay cơ cấu sản xuất. Mùa “ Ăn năm uống tháng hay Tháng nghỉ ngơi” truyền thống, thay vì được khề khà bên ghè rượu cần với bạn bè, người thân mừng một mùa no đủ, hoặc để dâng lễ vật hiến sinh trả ơn các vị thần linh phù hộ ; thì ngày nay lại đúng vào mùa tưới cà phê, để kịp ra hoa kết trái, gặt đám lúa đã trĩu hạt , nặng bông. Câu trường ca, cổ tích, hay những lời tâm sự hỉ hả…không có dịp để cất tiếng.
      -Thứ hai : sau nhiều năm,  những “ Báu vật nhân văn sống” đi dần về với ông bà. Người trẻ lớn lên không được tiếp nhận trao truyền, thậm chí ngộ nhận; Văn học truyền miệng cũng theo các cụ đi không trở lại.
    - Thứ ba : Từ sự chuyển đối tín ngưỡng thờ phượng, các lễ hội truyền thống không còn chỗ đứng trong các buôn, bon, kon, plei . Môi trường diễn xướng của văn học truyền thống ngày càng chật hẹp.
    - Thứ tư : Văn hóa mọi vùng miền đổ về Tây Nguyên, cuộc sống với mọi phương tiện nghe, nhìn với phim bom tấn dài tập và tin tức đến tự thế giới, tràn vào buôn làng…khiến một thời gian rất dài văn hóa truyền thống, bị khoác cho tấm áo “ lạc hậu”.
      Trong bối cảnh hội nhập, khó chọn lọc ấy về văn hóa của xã hội hiện tại, văn học cổ truyền Tây Nguyên càng không có chỗ đứng
    3.Một số đề xuất
    Việc bảo tồn & phát huy văn hóa truyền thống trong cộng đồng, đặc biệt với văn học cổ truyền không phải là việc dễ, thậm chí có khi còn không tưởng, bởi các phương tiện nghe nhìn quá phổ cập hiện nay. Chương trình Quốc gia đối với bảo tồn các Di sản văn hóa, đặc biệt là đối với khu vực dân tộc thiểu số, chỉ trong lĩnh vực văn học truyền miệng, nên chăng cần các hoạt động như :
              Đối với thể loại trường ca, sử thi :

    • Số hóa toàn bộ những tư liệu băng từ đã thu âm để lưu trữ. Xử lý thành những CD, trả về các buôn, bon, kon, plei như quà tặng của Nhà nước. Đài PT-TH tiếng dân tộc các địa phương Tây Nguyên dùng để phát lại trên sóng cho đông đảo bà con được nghe
    • Cơ quan thường trú Đài TNVN tại Tây Nguyên phát 6 thứ tiếng dân tộc. Có một bộ tổng tập các sử thi đã được xuất bản bằng song ngữ, sử dụng đọc trên sóng, sức lan tỏa rất cao.
    -  Nhà xuất bản Kim Đồng đầu tư cho các nhà văn, các họa sỹ phối hợp thực hiện làm  chuyện tranh từ các sử thi Tây Nguyên.
    - Cục Điện Ảnh thực hiện có chọn lọc 7 bộ phim thần thoại hoặc hoạt hình về sử thi của 7 tộc người đã được sưu tầm và xuất bản ( Ê Đê, Mông, Bahnar, Jrai, Răk Glay, Chăm Hroaih và Sê Đăng).
     - Ngành Giáo dục biên soạn trích đoạn sử thi, đưa vào chương trình học phổ thông các cấp ở các tỉnh Tây Nguyên. 
    Đối với thể loại cổ tích, ngụ ngôn :
     - Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc & Giáo dục in những tập truyện cổ tích song ngữ  màu đẹp, dành cho tất cả các dân tộc miền núi ( kể cả phía Bắc và Tây Nguyên).  Số hóa tư liệu chuyện cổ tích các dân tộc Việt Nam đã được in, dịch song ngữ, để thế hệ trẻ người dân tộc mai sau vẫn có thể tìm đọc được
    - Các đơn vị Thông tin lưu động Tỉnh xây dựng kịch bản trích đoạn sử thi, cổ tích địa phương, mời các cộng tác viên người dân tộc, trình diễn bằng tiếng dân tộc tại cơ sở.
    -Thành lập và khuyến khích các thư viện nông thôn vùng dân tộc, đặc biệt thư viện tư  nhân, có sách song ngữ .
    Kết luận
                Trong diễn xướng văn học cổ truyền Tây Nguyên, người nghe có thể đắm mình vui buồn, chiến đấu cùng  những tù trưởng dũng mãnh, oai hùng “ đầu đội khăn kép vai mang túi da” như Dam San, Jing Chơ Ngă…giỏi giang hết mình vì buôn làng; yêu thương và ngưỡng mộ  những người con gái H’Bia, H’Nhi “ dáng đẹp như ngọn măng non”giàu lòng nhân ái; cười hết cỡ với những con thỏ tinh ranh, con hổ ngờ nghệch hay bác voi to lớn kềnh càng mà sợ con kiến bé tí, lắng nghe chim Mling xử kiện sành sỏi… Lớn lên trong những câu chuyện tuyệt đẹp ấy, người Tây Nguyên,trẻ em, rồi thanh niên dân tộc thiểu số trước đây đều sống rất hiền hòa. Văn học cổ truyền mang tính hướng thiện là thế.
    Ở nông thôn, các vùng dân tộc thiểu số và miền  núi hiện nay có thừa những phim bộ diễm tình, võ thuật hay siêu nhân, nhưng lại thiếu  những phim truyền thuyết kỳ ảo của núi rừng, thiếu những câu chuyện cổ tích từ bà, mẹ, thiếu cả sách đọc đến trầm trọng. Chuyện cổ, chắc chắn sẽ đem lại cho trẻ em những giấc mơ đẹp, những tư duy hướng thiện vốn có sẵn trong mỗi một nội dung mà biết bao thế hệ ông bà, cha mẹ từ ngày xưa đã gửi gắm cho mai sau.
     Văn học cổ truyền các tộc người thiểu số là một trong những đặc trưng của  “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”. Việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy Di sản Quốc tế ấy trong bối cảnh Việt Nam đang cố gắng hội nhập và phát triển sánh cùng bạn bè trên thế giới, chẳng là việc đáng phải bàn, phải gấp rút làm đó sao?
     
    Linh Nga Niê kdam

    Bình luận bài viết