Trung tâm Phát triển  Nông Thôn Tây Nguyên

Trung tâm Phát triển Nông Thôn Tây Nguyên

  • 0914067495 - 02623.798798
  • taynguyencen@tncrd.ord
    • Banner
    • Thao nguyen xanh nie
    • Thao nguyen xanh

    ĐÔI ĐIỀU VỀ “HỌ” CỦA NGƯỜI TÂY NGUYÊN

  • 25/06/2022
  • lượt xem : 23
    Chia sẽ :

                Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là một điểm nhấn quan trọng,bao quát trong “Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện cho Nhân loại” theo sự ghi danh của tổ chức Quốc tế UNESCO. Trong Không gian ấy không chỉ có cồng chiêng ( gong ching), mà còn chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa của vùng miền, của tộc người. Dẫu chỉ có 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak, Đak Nông và Lâm Đồng, được UNESCO ghi danh, nhưng vùng Văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên, với nhiều điểm tương đồng về tâm linh, vật thể và phi vật thể… đều có nhiều nét đặc trưng khác biệt của Di sản Văn minh Nương rẫy đáng được trân trọng gìn giữ. Một trong những yếu tố đó là Họ của các tộc người, của mỗi gia đình, dòng họ .
              Bài viết này chỉ bàn tới vấn đề Họ, trong Họ & Tên theo cách gọi hành chính của Việt Nam. Xin ngược dòng thời gian đôi chút.
              Thuở xa xưa, nhiều tộc người tại chỗ  trong khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên không có họ. Thời Chúa Nguyễn, theo TS Nguyễn Đăng Vũ, dựa vào các suất tráng đinh khi lập danh bộ trong mỗi làng xã, đặt cho  người Hrê, Ka Dong họ Đinh. Các tộc người khác như Bâhnar, Sê Đăng ở Kon Tum, Gia Lai cũng không có họ, nhưng phân biệt nam thêm chữ A ( A Huy, A Lâm…), nữ thêm chữ Y ( Y Đai, Y Nhok…) trước tên.
               Người K’Ho nữ thêm chữ Ka ( Ka Thiếu, Ka  Mai…), nam thêm K’ ( K’Wẻ, K’ Bôt…). Tuy nhiên, một số nhóm địa phương K’Ho cũng có họ như Kra Zan, Păng Ting…Người T’rin (ở Khánh Vĩnh, Khánh Hòa), tương truyền là một nhánh tách ra từ người K’Ho, nhưng có họ của nam là Mà, Hà; họ của nữ là Cà. Khi sinh con gái mang họ mẹ, sinh con trai mang họ cha.
             Tương tự  vậy, có nhóm địa phương Mnông Gar mang họ N’Tơr, Bing…Một số vùng Mnông Preh, Mnông Nong gọi tên kèm theo bon ( buôn) hoặc tên mẹ (Giang bon Snar, Thịnh bon Jok Ju, Tiang kon Mai , Liang kon Ban…). Căn cứ vào cách gọi theo tên mẹ, mà người MNông nhóm Preh còn có gia phả bằng văn vần ( kuach jao) để tránh bị kết hôn cùng một dòng họ.
              Người Ê Đê có hai dòng họ chính là Niê & Mlô,mỗi dòng có thêm các nhánh phụ chỉ để khác đi khi tách khỏi một dòng họ lớn  ( Niê Siêng, Ê Ban…) nhưng vẫn thống nhất trong tất cả các nhóm địa phương để phân biệt giới tính trước tên như : con trai thêm chữ Y ( Y Ngông Niê Kdam, Y Wang Mlô Duon Du…) và nữ thêm chữ H’ (  H’Nghia Ê Ban, H’ Blum  Buôn Yă).
            Người Ê Đê Bih có  các họ Buôn Krông, Kmăn ( Y Tuyn Kmăn, H’Jam Buôn Krông…). Đều đặt họ ở phía sau giới tính và tên gọi. ( Người viết bài đã từng bị một nhân viên cơ quan nọ chất vấn “ sao họ lại đặt phía sau”, khi nhẹ nhàng sửa hộ cô ấy “ tên tôi là…không phải Niê Kdam ”).
          Tương tự, người Jrai ngoài những dòng chính là Nay ( Nay Phin, Nay Der, Nay Loét, Nay H’Wil…), Ksor  (Ksor Ní, Ksor Phước…), Kpă ( Kpă Toan, Kpă Nguyên…), Siu ( Siu Pơi, Siu Thanh…),  Rchom ( Rchom Jơn, Rchom Tih…)… còn có các nhánh  R’o, Ra Lan, Rma… ( các dòng họ Ê Đê, Jai tách ra đều có sự tích) cũng dùng Y và H’ để phân biệt giới tính.
              Khi đạo Cơ đốc xâm nhập vào Tây Nguyên, các vùng đã chuyển đổi tín ngưỡng có thêm tên Thánh như Ma Ri Thoai, Jô Zep Thanh…
              Năm 1954 tập kết ra Bắc, khi lập hộ khẩu ở trường cán bộ dân tộc miền Nam, Công an nhất quyết ai cũng phải có họ. Nên cán bộ, học sinh thích theo họ ai thì tự đặt cho mình và đăng ký như thế. Vậy mới có bạn tôi người Hrê ở Quảng Ngãi nhưng mang họ của người Ê Đê ở Đak Lak là Knơng Y Hia, bạn Bâhnar mang họ Siu ( Siu Phích, Siu Ơch…) của người Jrai…
              Khi lập sổ bộ ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thấy người Mnông vùng Gia Nnghĩa không có họ, lại thấy hay cắm lông chim trên vành khăn đội đầu, nên đặt cho họ Điểu ( Điểu Kâo, Điểu Glung, Điểu Náp…).
               Từ 1969 đến nay, đông đảo người Cor ở Trà Bồng, người Vân Kiều ở Quảng Bình, người Pa Cô ở Thừa Thiên - Huế đổi thành họ Hồ (theo họ Chủ tịch Hồ Chí Minh), người Hrê ở Ba Tơ, Sê Đăng ở Kon Tum đổi thành họ Phạm (theo họ Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Nên các bạn tôi lại có Đinh Long Ta, Đinh Thị Éc, Hồ Tam, Hồ Thị Khai, Hồ Chư, Phạm Văn Hoàng, Phạm Thị Hương…là thế.
              Sau năm 1975, một lần nữa lập hộ khẩu, cơ quan công quyền buộc tất cả phụ nữ Mnông ở Đak Nông phải thêm chữ Thị để phân biệt giới tính ( Thị Mai, Thị Bạch…)
              Bên cạnh đó, do các cuộc hôn nhân ngoài tộc người ngày càng nhiều, nên con cháu người Tây Nguyên có thêm các họ của người miền xuôi như Nguyễn, Trần, Hoàng… ( Nguyễn Thị Sử – Kê Sử, Trần Y Kiều My – My Mlô…). Sau này, bố mẹ có sự hiểu biết hơn, trân trọng dòng họ mình hơn, các cháu mang cả hai họ, vẫn giữ được họ mẹ theo truyền thống Ê Đê ( Vi Hoàng Niê kdam, Nguyễn Phong Lan Mlô Duon Du…), thật là những cái tên đẹp và vẫn định được ra nguồn gốc.  Hoặc chuyển sang lấy theo họ cha ( Siu Hồng Mai ). Cũng có khi vì hiểu sai mà bỏ qua họ cha người Jrai, mang họ  của mẹ ( Võ Y Nhương…).
              Một số cán bộ người Tây Nguyên khi hoạt động cách mạng trước 1954, để tránh sự theo dõi của chính quyền, thường lấy bí danh như người miền xuôi, ví dụ Nguyễn Ái Phan, Nguyễn Ái Viên, Lê Văn Qúy . Con cái sau này lấy theo họ cha là Lê Thị Hồng  hoặc Nguyễn Ái Lan…chứ không lấy họ B.Yă hoặc Buôn Krông gốc.
              Chỉ sơ sơ vài điều như vậy, để thấy đã từng có cách làm khiên cưỡng cũng như không theo một quy củ nào của việc áp đặt hay tự thân hình thành các “ dòng họ” mới của người Tây Nguyên. Nhà nước hiện nay cho phép mỗi gia đình tự định danh họ cho con cái, nên việc để con mang họ cha hay mẹ là người dân tộc thiểu số Tây Nguyên đều tùy thuộc vào thỏa thuận của cha mẹ, không còn là sự ép buộc.
              Tuy nhiên, tách ra một sự việc nhỏ, để muốn nói đến một điều lớn hơn : Văn minh Lúa nước, khác biệt hẳn với Văn minh Nương rẫy. Tuy đều đã hình thành từ phong tục, tập quán lẫn thói quen của tộc người từ hàng ngàn năm trước. Đừng nên vì bất cứ ý tưởng cá nhân nào, thiếu sự hiểu biết về văn hóa của vùng đất, mà áp đặt sự đổi thay không phù hợp với truyền thống, tạo nên những sự dở khóc dở cười khi thực hiện những thủ tục hành chính ở đâu đó. Huống hồ tên, họ không chỉ là định danh của một con người, mà còn là tiêu chí để hiểu biết về gia đình, dòng họ, thậm chí là nguồn cội.
                Văn hóa cổ truyền của mỗi tộc người là nét đẹp tiêu biểu, đặc trưng của vùng đất và con người nơi ấy. Cần luôn luôn phải được trân trọng và bảo tồn. Nhất là đối với văn hóa Tây Nguyên, đã là một thuộc tính trong Di sản đại diện cho nhân loại
     
                                                                                      Linh Nga Niê kdam
     

    Bình luận bài viết