Trung tâm Phát triển  Nông Thôn Tây Nguyên

Trung tâm Phát triển Nông Thôn Tây Nguyên

  • 0914067495 - 02623.798798
  • thanuxa@gmail.com - taynguyentrungtam@gmail.com
  • Nghệ thuật diễn xướng dân gian Tây Nguyên là một kho tàng đồ sộ, phong phú và đa dạng. Tuy nhiên trong nhiều năm qua, do nhiều nguyên nhân, vốn quý này đang dần bị mai một và có quy cơ triệt tiêu khỏi đời sống cộng đồng. Khôi phục lại môi trường, đồng nghĩa với việc trả lại cho cộng đồng các dân tộc bản địa vốn nghệ thuật truyền thống của chính họ, là yếu tố quan trọng để bảo tồn một trong những đặc trưng của “ Không gian văn hoá cồng chiêng” vừa được UNESCO công nhận là “ Di sản văn hoá dân gian phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”. Đây là một việc làm rất khó, nhưng không thể không thực hiện.

     
     

    Truyền thống

     

    Văn hoá dân gian Trường Sơn - Tây nguyên  thường được coi là bao gồm tất cả các dân tộc thiểu số sinh sống trên dãy núi Trường Sơn, nghĩa là từ Bru, Vân Kiều, Pa cô ... tại phía Nam Quảng Bình, Quảng Trị, kéo dài cho đến STiêng, Châu Ro.... ở Bình Phước,Đồng Nai. Bởi về dân tộc học, các cư dân này đa số có nếp sống & phong tục tập quán tương đối thống nhất, đều có xuất phát điểm từ phương thức canh tác nương rẫy trên đất dốc. Đồng thời đều thuộc hai nhóm ngôn ngữ chính là : Môn –Khơmer và Mã lai-đa đảo.

     

    Văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số miền núi nói chung và Tây Nguyên nói riêng, đều ra đời từ tín ngưỡng đa thần và phương thức sản xuất nương rẫy truyền thống.Các nhà nghiên cứu và những người yêu mến VHDG các dân tộc thiểu số Trường Sơn-Tây nguyên,thường biết đến cụm từ “ ăn năm uống tháng”, để chỉ những lễ hội liên miên được tổ chức theo hệ thống nông lịch và vòng đời của người Tây nguyên.Toàn bộ những lễ hội lớn liên quan tới sự sống còn của cộng đồng trong sản xuất nông nghiệp ( như cầu mưa, ăn cơm mới, cúng bến nước, cúng thần rừng...), hoặc cuộc sống sinh hoạt của một đời người ( chúc thọ, cưới hỏi, dựng nhà mới, thành niên, bỏ mả...), của một gia đình, một buôn hay một vùng, đều diễn ra trong cùng một thời điểm. Người Việt thường gọi “ nông nhàn”, người Tây nguyên gọi là khay ning nơng – tháng nghỉ ngơi, mnăm mlam bơng thun – uống tháng ăn năm... khi mùa màng đã thu hoạch xong xuôi.

     

    Với thực tế đất rộng người thưa, con người không mấy khi phải lo dự trữ cái ăn. Tâm lý hưởng thụ , ngơi nghỉ sau những ngày lao động vất vả, luôn song hành cùng các lễ hội diễn ra liên miên ,từ nhà nọ sang nhà, kia, từ buôn này đến buôn khác.Từ vùng bên Đông sang bên Tây, hoặc từ phía Bắc tới phía Nam.Có khi lễ hội của một buôn, nhưng lại mời mọc nhiều buôn quanh vùng cùng tham gia... Hình thành nên “ mùa ăn năm uống tháng” là thế .( Tương tự như câu tục ngữ “ tháng giêng là tháng ăn chơi” của miền xuôi vậy).

     

    Các lễ nghi- lễ hội nối nhau chính là môi trường diễn xướng tốt nhất cho mọi loại hình văn học nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số Trường Sơn-Tây nguyên.Đây cũng chính là mảnh đất tốt để hình thành, nuôi dưỡng sự tồn tại, tiếp nối của một nền Văn minh nương rẫy ,độc đáo, phong phú.Trong không gian các lễ hội, người ta dễ dàng bắt gặp sự hiện diện tổng hợp của không chỉ của tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ nghi, mà còn cả nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, văn học truyền miệng, lẫn sự phát triển mạnh mẽ của các nghề thủ công.

     

    Chính từ sự xuất hiện tập trung đông đủ này, được lặp đi lặp lại, truyền từ đời này sang đời khác,trở thành truyền thống và có sức sống mãnh liệt, trường tồn đến vậy trong cộng đồng các cư dân thiểu số trên dãy núi Trường Sơn. Đó cũng chính là những gì được UNESCO coi là “ Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” .Trong đó, nghệ thuật diễn xướng dân gian Tây Nguyên,thường xuất hiện trong ba môi trường chính : Trong các sinh hoạt đời thường;Trong lao động sản xuất;Trong các lễ thức theo tín ngưỡng & các lễ hội của cộng đồng.

     

    Mọi lễ thức ở Tây Nguyên đều xoay quanh hai trục chính là nông lịch và những mốc quan trọng của vòng tròn một đời người..Ngoài ra còn có các lễ nghi khi tổ chức kết nghĩa với bộ tộc hoặc con người bộ tộc khác, lễ thức liên quan đến những cuộc chiến tranh...

     

    Tuy nhiên, điều quan trọng là sau phần lễ thức sẽ đến phần hội.Đây là dịp để cộng đồng chung tay gánh vác, chia sẻ việc chung việc riêng. Cũng là dịp anh chị em trong dòng họ gặp nhau, gái trai tụ tập trò chuyện, làm quen, nên duyên phận. Và đó cũng là môi trường tốt nhất, không gian bền vững nhất cho nghệ thuật diễn xướng sinh sôi, phát triển.

     

    Lễ hội là một trong những hình thức sinh hoạt cộng đồng lớn nhất, phát huy cao nhất truyền thống văn hoá cuả mỗi tộc người.Lễ và hội Tây Nguyên,đó chính là mảnh đất, là môi trường để VHDG sinh sôi, nảy nở, được bảo tồn và phát triển.Cũng từ môi trường này, hàng trăm trường ca- sử thi Tây nguyên đã ra đời, tồn tại và truyền khẩu qua bao nhiêu thế kỷ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số .Từ đời sống dân giã  bước ra diễn đàn Âm nhạc Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 11- 1991 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, thay mặt cho các tập đoàn ching chêng Tây Nguyên,  3 làn điệu ching Knăh và một điệu dân ca Êđê đã được lựa chọn vào kho tàng tinh hoa âm nhạc dân gian khu vực.Cũng như tháng 11-2005 UNESCO công nhận không gian văn hoá cồng chiêng Tây nguyên là “ di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại” .

     

    Mặc dù vậy đó vẫn là hào quang của đời xưa.

     

    Hiện tại

     

    Dưói tác động của nhiều nguyên nhân, môi trường diễn xướng, mảnh đất gieo trồng và sinh sôi của VHDG Trường Sơn-Tây nguyên, như câu chuyện “ miếng da lừa”, đang ngày càng đứng trước nguy cơ biến dạng và biến mất.

     

    - Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất đầu tiên là do sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng khiến cho            quy trình sản xuất theo nông lịch nương rẫy phải hoàn toàn đổi thay. Khái niệm “Mùa ăn năm uống tháng” trong dịp nông nhàn cũng không thể còn được duy trì.

     

    - Nguyên nhân thứ hai là sự thay đổi quan niệm tín ngưỡng.

     

    Theo thông tin từ Ban tôn giáo TW : nếu đến thời điểm năm 1975, cả Tây nguyên chỉ có chừng hơn 360.000 tín đồ theo đạo Thiên Chúa & Tin Lành, thì chỉ mới tỉnh đến năm 2003 thôi, đã có tới 95% đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo đạo.

     

    Sự chuyển đổi tín ngưỡng kéo theo việc từ bỏ các lễ nghi cúng Yang,dù là theo nông lịch hay theo vòng đời. Cũng còn là chuyện xoá bỏ các lễ hội truyền thống thường diễn ra trong các mùa “ ăn năm uống tháng”. Đồng thời đồng nghĩa với việc triệt tiêu các môi trường diễn xướng của văn học nghệ thuật dân gian Tây nguyên.Ching chêng, trống ( phương tiện chính để giao lưu với các vị thần linh xưa) không còn có dịp vang lên, những hình thức hát kể, những cuộc vui chơi hát đối đáp, tâm sự...không còn có dịp được cất lời tỏ bày...

     

    Những năm cuối của thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ XX còn diễn ra vấn nạn

     

    “ chảy máu cồng chiêng”. Theo con số thống kê của Sở VH-TT Đăk Lak, những năm trước 1975, cả tỉnh có hơn 10.000 dàn chiêng các loại , thì đến năm 2006 đã chỉ còn hơn 3.000 bộ.Nghĩa là mất đi đến 30% số chiêng.

     

    Đã có thời các chủ trương xây dựng đời sống mới, loại trừ mê tín dị đoan, tránh gây lãng phí lương thực thực phẩm.... dẫn đến một sự ngộ nhận không nhỏ đối với Văn hoá của Tây nguyên nói chung, các lễ nghi truyền thống, lễ hội gắn với đời sống tâm linh nói riêng, bị hiểu nhầm và thực thi một cách cực đoan những hình thức cấm đoán các loại hình sinh hoạt này,đã khiến nghệ thuật dân gian càng thêm mai một.

     

    - Nguyên nhân thứ ba : Làn sóng di dân tự do ồ ạt bên cạnh việc quy hoạch các liên hiệp công, nông, lâm trường,ồ ạt tuyển dụng lao động các nơi vào xây dựng “ xã hội nghề rừng” hay vùng kinh tế mới. Sự giao thoa văn hoá từ nhiều miền tụ về Tây nguyên và sự tiếp thu văn hoá nghe nhìn trên các phương tiện thông tin đại chúng một cách không có chọn lọc, cũng là một tác nhân đáng kể, khiến môi trường diễn xướng VHDG Tây nguyên càng có nguy cơ teo lại và biến mất.

     

    Thật đáng buồn khi có số đông thanh niên Tây nguyên, tuy sinh ra và lớn lên, đi học vẫn ở trong buôn làng, nhưng cho đến tận lúc tốt nghiệp đại học, vẫn chưa một lần được nghe hát-kể trường ca - sử thi Khan, Ôt n’rông, Hri, Hơ mon... loại hình văn học truyền miệng độc đáo rất được ngưỡng mộ của dân tộc mình.( Xin dẫn hai ví dụ cụ thể : Lớp bồi dưỡng sáng tác văn học thiếu nhi các dân tộc Êđê, Mnông, Jrai... do Hội VHNT ĐL tổ chức hè hàng năm bắt đầu từ 2004,gồm 25 em từ lớp 6 cho đến lớp 12, đều chưa em nào có một lần được biết đến hát- kể trường ca- sử thi . Một trí thức Mnông tốt nghiệp đại học quê ở xã vùng sâu, vùng xa Đăk Tik - Tỉnh Đăk Nông, chưa một lần được nghe kể Ôt n’trong ....v...v)

     

    Nhà nước đã làm gì ?

     

    Đứng trước nguy cơ biến mất của cả một nền văn minh nương rẫy phong phú, đồ sộ và độc đáo, nghị quyết V của BCH TW Đảng khoá XIII đã như một luồng gió mới thổi bay những đống tro tàn huỷ diệt phủ lên cánh đồng văn hoá dân gian màu mỡ của Tây nguyên.

     

    - Từ những năm 1990 cho đến nay, hàng loạt các lễ hội liên hoan cấp huyện, tỉnh, vùng, cấp khu vực được định kỳ tổ chức, nhằm khôi phục lại các truyền thống văn hoá dân gian

     

    - Các chương trình khoa học cấp nhà nước, cấp tỉnh sưu tầm & nghiên cứu, khôi phục và phát triển văn hoá dân gian Tây nguyên được các tỉnh chú trọng xây dựng đề án thực hiện

     

    - Chương trình sưu tầm sử thi cấp quốc gia do Viện VHDG , nay là Viện Văn hoá đứng ra chủ trì, được thực hiện ở 8 tỉnh miền Trung & Tây nguyên ( Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông, Khánh Hoà, Ninh Thuận& Phú Yên...).

     

    -Chương trình khôi phục nhà Rông, Gươl văn hoá  ở khu vực miền Trung & các tỉnh Tây nguyên

     

    -Chương trình xây dựng nhà dài sinh hoạt văn hoá cộng đồng ở các buôn dân tộc bản địa Đăk lăk

     

    -Chương trình truyền dạy đánh ching chêng, chế tác nhạc cụ dân gian, tạc tượng gỗ cho thanh thiếu niên ở Đăk Lăk, Kon Tum, Gia Lai...

     

    -Chương trình tặng chiêng cho nhiêu buôn, bon ở Đăk nông & Đăk Lăk

     

    -Chương trình truyền dạy diễn tấu trường ca- sử thi đã được thực hiện ở 4 tỉnh : Đăk lăk, Kon Tum,  Đăk Nông&  Khánh Hoà, cho các dân tộc Êđê, Bânar Rngao, Răk glây và Mnông.

     

    -Hội VNDGVN trao tặng danh hiệu “ Nghệ nhân dân gian” cho một số nghệ nhân Tây nguyên tiêu biểu ở Gia Lai,Kon Tum, Đăk Lăk & Đăk Nông

     

    -Có những nơi như ở tỉnh Đăk Nông & Đăk Lăk,chính quyền cấp tiền để bà con các buôn làng tự tổ chức một số lễ hội truyền thống nhân những ngày kỷ niệm lớn chung.

     

    -Với sự hỗ trợ của Quỹ bảo tồn nghệ thuật dân gian, tại ĐL có  02 lớp dạy chế tác & diễn tấu nhạc Êđê, một số lớp truyền dạy tạc tượng gỗ, lớp tạc tượng và Trại điêu khắc gỗ dân gian của Công ty cao su ...

     

    -Gần đây nhất là sau khi tổ chức UNESCO công nhận không gian văn hoá cồng chiêng Tây nguyên là di sản truyền khẩu quý báu của nhân loại, các địa phương Tây Nguyên đều đã xây dựng chiến lược bảo tồn “ không gian văn hoá cồng chiêng” của tỉnh mình.

     

    Kết quả chúng ta thu lại được là gì ?

     

    Phần nào những việc làm trên  đã có tác động tích cực đến tâm tư, tình cảm và ý thức hệ của bà con các dân tộc thiểu số Trường Sơn- Tây nguyên.Trong các liên hoan nghệ thuật dân gian diễn ra định kỳ luân phiên từng địa phương trong cả 5 tỉnh Tây nguyên, bà con rất háo hức được tham gia.

     

    Tuy nhiên, tất cả những hoạt động này dường như vẫn “ ăn xổi ở thì”,chỉ nằm ở dạng bao cấp của Nhà nước, do các đơn vị thuộc ngành văn hoá đứng ra chịu hoàn toàn mọi kinh phí tổ chức.Hoặc có sự tài trợ của các Viện nghiên cứu, các hãng phim, đài Truyền hình... để quay phim, ghi hình.Các cuộc liên hoan thường chỉ được thực hiện ở các trung tâm văn hoá của tỉnh,huyện...với một số lượng người đến tham dự rất hạn hẹp, đa số là nghệ nhân của các đoàn và những người tò mò .Còn các chủ nhân đích thực của kho tàng văn hoá độc đáo ấy, những người đã sản sinh, gìn giữ và vẫn đang rất “ đói” sinh hoạt văn hoá lẫn thông tin, không mấy được trực tiếp tham gia hoặc tham dự,bởi không gian văn hoá cồng chiêng vẫn chưa thật sự hiện diện trở lại được trong đời sống xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây nguyên một cách chủ động, thậm chí tự phát như trước đây.

     

    Một số kiến nghị Việc khôi phục lại môi trường diễn xướng của văn học nghệ thuật dân gian các dân tộc thiểu số Tây nguyên, cũng chính là khôi phục lại “ không gian văn hoá cồng chiêng” trong đời sống cộng đồng các tộc người Tây Nguyên, đã ngày càng trở nên cấp bách. Nhưng làm thế nào để tái tạo lại được môi trường đó một cách tự nguyện, trong chính đời sống sinh hoạt của cộng đồng các sắc dân bản địa  là một việc làm không dễ.

     

    Tuy nhiên, ngay tại Tây nguyên đã có một số mô hình đáng biểu dương một cách trân trọng.Vì dụ như :

     

    * Ở một số vùng còn duy trì hàng năm những lễ “ Uống nước giọt” ( cúng bến nước),  lễ cúng rừng.

     

    * Tại làng Sê Đăng Kon Hring ( xã Êa H’Đing, huyện Cư Mgar, Đăk Lăk) vẫn duy trì hàng năm vào ngày 1-12 lễ hội ăn cơm mới tập trung tại nhà Rông của cả cộng đồng...

     

    * Chúng tôi cũng đã trực tiếp được nghe qua băng ghi âm, một nghệ nhân Jrai hát - kể kinh thánh  theo hình thức hri ( trường ca Jrai)

     

    * Tại xã Lat ( Lạc dương, lâm Đồng) có tới 5 đội nghệ nhân dân gian thường xuyên phục vụ khách du lịch.

     

    Đây hoàn toàn là những hoạt động hoặc lễ hội truyền thống được tổ chức một cách tự phát , khác với những cuộc liên hoan định kỳ hàng năm do ngành văn hoá hoặc du lịch đứng ra tổ chức, mời bà con tham gia  thể hiện. Trong những ngày hội này của cả cộng đồng, mọi nghi lễ truyền thống,mọi loại hình diễn xướng văn học nghệ thuật đều được tái tạo như nó vốn có và đang tồn tại. Vậy tại sao những vùng đó cho đến nay vẫn  còn duy trì được những lễ hội này?Và tại sao các nghệ nhân không biết chữ làm được điều ấy?

     

    Trước tiên phải kể đến vai trò của các nghệ nhân, các già làng.Họ không chỉ động viên, thúc giục chính quyền buôn, kon, plei... phải nhớ tổ chức, mà còn trực tiếp tham gia việc điều hành, phân công trách nhiệm trong việc duy trì lễ thức & truyền dạy âm nhạc cổ truyền.Sau nữa là sự hiểu biết và quan tâm đến đời sống văn hoá tinh thần của các cấp lãnh đạo, ngành văn hoá địa phương hỗ trợ kinh phí .Còn việc hát- kể được kinh thánh , đơn giản chỉ vì những tài liệu này đều được viết bằng tiếng Êđê, Jrai.Và có thể có nguồn tài trợ nào đó về kinh phí thực hiện từ khâu sách để nghệ nhân học, đến băng để ghi âm và phát hành.

     

    Chính từ những thực tế trên đây mà chúng tôi muốn kiến nghị : để có thể khôi phục lại môi trường diễn xướng nghệ thuật dân gian các dân tộc thiểu số Tây nguyên,cho không gian văn hoá cồng chiêng tồn tại, nên chăng :

     

    * Động viên bà con các buôn, kon, plei tự chọn lấy một ngày hội cổ truyền của dân tộc mình, của địa phương mình, để tự nguyện đóng góp tổ chức thường niên cho cả cộng đồng .Vài năm đầu có sự hỗ trợ kinh phí và hướng dẫn ( rất thận trọng & không áp đặt ) của chính quyền & ngành văn hoá địa phương, để các loại hình văn học nghệ thuật truyền thống được phát huy .

     

    * Ngành VHTT nghiên cứu bố trí sao cho các lễ hội được tổ chức luân phiên từng cụm buôn, plei để có điều kiện giao lưu và động viên sự ganh đua của phong trào.

     

    * Củng cố hệ thống truyền thanh, phát thanh tiếng dân tộc từ cơ sở đến TW.Các chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài TNVN được phát qua vệ tinh, để ở bất cứ vùng sâu, vùng xa nào cũng có thể nghe được

     

    * Tăng cường ghi âm & phát các thể loại dân ca, nhạc cụ dân tộc trên sóng phát thanh & truyền thanh.Các băng ghi âm của chương trình sử thi,sau khi đã được ghi lại bằng văn bản, nên gưỉ lại từng địa phưong để phát thường xuyên trên sóng truyền thanh, phát thanh.

     

    * In và phát hành nhiều loại băng ghi âm, ghi hình ( video), sách bằng các thứ tiếng dân tộc. Đặc biệt là những đề tài về nét đẹp văn hoá truyền thống, gương sáng của các vị cán bộ cách mạng lão thành người dân tộc bản địa, phát xuống cơ sở.

     

    Khôi phục môi trường diễn xướng cho VHNT Tây Nguyên để gìn giữ không gian văn hoá cồng chiêng trong lành & đích thực  đúng là một việc làm khó, nhưng nếu có tâm & kiên trì, nhất định sẽ làm được. Chúng ta có quyền hy vọng chứ ?

    Bình luận

    Bài viết cùng loại

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    ÂM NHẠC DÂN GIAN Ê ĐÊ DRAO

    Lễ hội cộng đồng Tây Nguyên

    Nghệ thuật diễn xướng Tây Nguyên

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    Luật tục TN với môi trường sinh thái

    Lễ Chrai của người Mnông Gar

    Bó củi hứa hôn của cô gái Jẻ

    Tục ăn trâu ở Tây Nguyên

    Lễ hội Tăm nghét

    Những trò chơi dân gian Tây Nguyên

    Lễ xoay cột cầu mùa

    Độc đáo kiến trúc nhà Tây Nguyên

    Thủ thỉ thù thì đinh tút Jẻ ,Triêng

    Bì bộp mùa rẫy Klông put

    Ẩm thực K"ho

    Đám cưới Mnông Rlâm

    Ấm nồng làn điệu dân ca Cor

    Gạo nếp với người dân làng Típ

    Rực cháy một màu hoa!

    Luật tục Tây Nguyên với gia đình & hôn nhân

    Vài nét về tộc người Pu Noong Preh

    Văn hoá truyền thống Tây Nguyên trong ổn định & phát triển

    Đôi điều về người Bih ( Êđê Bih?)

    Đôi điều về nhà Rông

    Kể vài điều về nhà mồ Tây Nguyên

    NGhề săn bắt và thuần dưỡng Voi ở Buôn Đôn

    Áo vỏ cây

    Nghề dệt vải

    Vài nét về tộc người Mnông

    Vấn đề " GIà làng" ở Tây Nguyên