Trung tâm Phát triển  Nông Thôn Tây Nguyên

Trung tâm Phát triển Nông Thôn Tây Nguyên

  • 0914067495 - 02623.798798
  • thanuxa@gmail.com - taynguyentrungtam@gmail.com
  • Lễ hội là một trong những điều không thể thiếu trong tín ngưỡng văn hóa của người Việt.Trong xu hướng “ phục cổ ” hiện nay, các lễ hội ở nhiều vùng miền đang được đa số địa phương chú ý khôi phục lại. Xuất phát từ tín ngưỡng “ Vạn vật hữu linh”, nên hoạt động lễ hội đối với các tộc người thiểu số Tây Nguyên - bao gồm toàn bộ các nhóm ngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo ở dải đất miền Trung - cũng là một trong những thành tố mang đậm chất văn hóa truyền thống.

    Trước hết tôi xin kể  hai câu chuyện nhỏ về lễ hội ở Tây Nguyên : 
    1-Những năm đất nước mới giải phóng,đến các buôn theo đạo Cơ đốc giáo, không bao giờ chúng ta nghe được tiếng ching chiêng.Khi tìm hiểu, các già làng cho biết :  “ đã cải đạo thì không đánh chiêng và uống rượu cần nữa. Vì mất thời gian, mất vệ sinh và lãng phí lương thực, thực phẩm”.Tuy nhiên, những năm gần đây, chính bà con lại đề nghị với chính quyền cho được tham gia các cuộc liên hoan văn hóa cồng chiêng .

    2- Sê Đăng là tộc người thứ hai ở Tây Nguyên, cách đây gần 200 năm, đã từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo đạo Cơ đốc.Tại các làng của người Sê Đăng, cho dù còn ở lại quê gốc là Kon Tum hay đã di cư đến nơi khác, bao giờ cũng có lễ ăn cơm mới vào dịp cuối năm.Lễ này sau khi già làng cảm tạ Chúa Trời, là phần hội đánh chiêng, múa hát, uống rượu cần,ăn cơm chung trên sân nhà Rông. 
    Xin không bình luận gì thêm về những việc này.

     

     
     

    Cũng xin được trình bày với quý vị quan điểm của cá nhân chúng tôi về cụm từ “ lễ hội”.Không ở đâu có nhiều lễ thức như ở Tây Nguyên.Do tín ngưỡng “ vạn vật hữu linh” , nên bất cứ điều gì liên quan đến sản xuất và đời sống con người, đều phải có sự cầu xin để được cho phép của các Yang cho tiến hành .Xong việc, được việc phải tạ ơn. Vi phạm luật lệ cộng đồng khiến các yang nổi giận phải tạ tội….từ đó mà diễn ra dày đặc các lễ thức, lễ nghi, lễ hội.

     
     

    Nhưng không phải cứ có lễ là sẽ có hội. Vì có nhiều những lễ nhỏ chỉ một con gà, thậm chí là một heo nhỏ với một ché rượu,với sự tham gia của số ít người có liên quan, không có diễn tấu ching chêng, nên không thể hình thành phần hội sau lễ. Chỉ khi nào có sự tham gia của đông đảo thành phần, những người vừa là khách thể, vừa chủ thể trong những lễ cúng lớn của cộng đồng hoặc một gia đình, có sự hiện diện của âm nhạc ching chêng cùng với các nghệ thuật diễn xướng khác, để sau phần lễ nghi, là phần vui chơi, ăn uống chung của cả cộng đồng, lúc ấy mới là đúng là “ Lễ hội”. Gần đây chúng tôi thấy cụm từ này bị lạm dụng đến mức quá tải. Ví dụ như “ Lễ hội rượu cần” hoặc “ lễ hội áo dài”…có lễ đâu mà gọi là “ Lễ hội ”? Sao không gọi thẳng là “ Ngày Hội ẩm thực rượu cần ”. Hoặc “ Đêm Hội áo dài” ….nghe có gì là khó gọi, mà lại chính xác hơn chăng ?

     
     
     

    Do có cùng một địa bàn cư trú trên phía Đông dãy núi Trường Sơn, cùng chung tín ngưỡng đa thần, nên sự tương đồng văn hóa tập quán giữa các tộc người, đặc biệt là trong lĩnh vực các lễ hội, cũng là điều tất yếu . 
    Hệ thống các lễ hội Tây Nguyên có thể chia làm ba nhóm theo ba tính chất nội dung như sau : 
    - Các Lễ nghi & Lễ hội theo nông lịch. 
    - Các Lễ nghi & Lễ hội theo vòng đời

     
     

    - Các Lễ nghi & Lễ hội đối với những mối quan hệ ngoài cộng đồng. 
    ( Xưa nay nhiều nhà sưu tầm cho rằng chỉ có hai nhóm nội dung lễ hội theo nông lịch và  lễ nghi theo vòng đời, nhưng trong thực tế xã hội Tây Nguyên cổ, cho đến thời kỳ nửa đầu thế kỷ XX, khi người Pháp bắt đầu tìm ra cao nguyên miền Tây, các lễ thức đối với những mối quan hệ ngoài bộ tộc, cũng đóng một vai trò quan trọng không kém. Bởi nó không chỉ nhằm để cộng đồng đánh giá mối quảng giao, sự lĩnh lãm, từng trải của người thủ lĩnh, mà phần nào còn đảm bảo mối  kết giao để không thể xẩy ra những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc với nhau ). Cả ba nhóm lễ nghi và lễ hội này, đều nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, phục vụ cho hai đối tượng chủ yếu là toàn thể cộng đồng và gia đình cá thể. 
    Sự cố kết cộng đồng là một trong những cơ sở tồn tại của các tộc người Tây Nguyên, do đó, việc chăm lo cúng kiếng các vị thần linh,sao cho mọi hoạt động trong một năm của toàn thể cộng đồng được suôn xẻ, bao giờ cũng được các vị thủ lĩnh ( chủ bến nước, tù trưởng…) và hội đồng già làng hết sức coi trọng.

     
     

    Trong đường lối bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay của Đảng và Nhà nước ta,việc đặt mối quan tâm hàng đầu đối với hệ thống những lễ hội cộng đồng truyền thống của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, theo chúng tôi, nên được coi là  điều tiên quyết. 
    Chúng ta sẽ cùng điểm lại một cách sơ lược một vài lễ hội cộng đồng chính và thực trạng sự tồn tại của các lễ thức này, cũng như thử bàn một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy không chỉ văn hoá truyền thống, mà còn cả tính cộng đồng thông qua các lễ hội, trong đời sống hiện tại ở Tây Nguyên . 

    I - Các lễ hội cộng đồng chính tính theo thời gian một năm

     
     
     

    Các tộc người thiểu số bản địa Tây Nguyên có lối sống cố kết cộng đồng rất bền vững.Do vậy, trong toàn bộ các lễ thức – lễ hội diễn ra dày đặc trong năm để cầu xin và đáp ứng hệ thống vô số các vị thần linh ( yang), mọi lễ hội liên quan đến việc phục vụ cho lợi ích của toàn thể cộng đồng, luôn luôn được đề cao, thường chủ yếu tập trung vào những lễ thức theo nông lịch : 
    1- Lễ Cầu mưa : 
    Thường diễn ra vào dịp tháng 3, tháng 4 hàng năm, khi thiên nhiên bắt đầu chuyển mùa, việc dọn sạch rẫy cũ hoặc khai hoang rẫy mới, được mọi gia đình bắt tay vào thực hiện.

     
     

    Lễ cầu mưa sẽ tiến hành vào thời điểm sau khi một nửa số gia đình trong buôn, bon, kon, plei đã làm xong việc dọn cỏ, đốt rẫy. ( Rẫy mới phát lần đầu, rẫy hiện đang trỉa lúa sau khi thu hoạch mùa trước, để lại những gốc rạ , nay phải cuốc lên và đốt đi như một hình thức bổ xung tro cho đất; rẫy bỏ hoang nhiều năm cho đất tự hồi phục, nay đến thời hạn luân chuyển…vv...). Chủ làng sẽ cùng với các thày cúng, và một số già làng chuẩn bị cho lễ này.Lễ có thể diễn ra gần bến nước ngoài buôn, cũng có thể tổ chức tại sân nhà Rông, hoặc ngay tại sân nhà hay trong nhà của chủ bến nước ( tùy theo tập quán cư trú của mỗi tộc người).

     
     

    Lễ vật hiến sinh chuẩn bị cho lễ cầu mưa lớn nhất chỉ là một con heo từ 3-5 gang ( khoảng 60kg) gà, rau và rượu cần không hạn chế số lượng, do toàn thể cộng đồng đóng góp ( tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, không có quy định nào về mức độ hay số lượng bắt buộc . Người không có của sẽ đóng góp bằng công phục vụ) .Thày cúng sẽ khấn những lời bày tỏ nguyện vọng của cả cộng đồng cầu mong không chỉ nhanh chóng có mưa để tiến hành gieo trỉa, mà còn xin cho được một năm mưa gió thuận hòa, đủ nước cho cây lương thực, thực phẩm sinh sôi,phát triển, phục vụ nhu cầu ăn, uống trong cuộc sống hàng ngày của con người.

     
     

    Lễ này ít yếu tố cấu thành hội (vì chỉ là của một đơn vị cơ sở buôn, bon, kon , plei mà thôi) tuy cũng có đánh chiêng, có sự giao lưu giữa       toàn thể thành viên trong cộng đồng tụ tập tại nơi diễn ra lễ thức, để chứng kiến.Lễ thường diễn ra chỉ trong một ngày.

     
     

    Người Bâhnar Rngao ở Kon Tum còn có lễ cầu mưa rất đặc biệt : trước tiên cúng thần Sấm ( Book Glaih) , nếu trời vẫn không mưa , sẽ phải cúng cả tình nhân của thần Sấm là Yang Đăk để nhờ xin hộ với thần làm ra mưa. Lễ vật hiến sinh là một con dê trắng và một con heo trắng. 
    2- Lễ mừng lúa mới :

     
     

    Đối với các tộc người theo nhóm ngữ hệ Môn – Khơ mer ( Nam Á), lễ ăn cơm mới thường được chủ làng, chủ giọt nước đứng ra tổ chức chung cho cả cộng đồng. Lễ thường được tổ chức vào dịp cắt những gùi lúa đầu tiên

     
     

    ( khác với lễ đóng cửa kho lúa của từng nhà sau khi đã thu hoạch xong. Cũng như khác với lễ ăn cơm mới của từng gia đình của nhóm các tộc người thuộc ngữ hệ Polynizieng – Nam Đảo ) . 
    Lễ thường diễn ra ở sân nhà Rông, hoặc ở nhà chủ giọt nước ( chủ làng), vào dịp tháng 11 hoặc đầu tháng 12 dương lịch, có thể kéo dài trong 2 – 3 ngày, tùy theo mức độ mùa màng dự kiến sẽ thu được.Lễ vật hiến sinh trong ngày tổ chức ăn cơm mới có thể là heo, bò, đối với các nhóm tộc người ngữ hệ Môn –Khơmer thì nếu được mùa lớn ( thu được 100 gùi lúa trở lên) phải có ăn trâu.

     
     

    Đây là một trong những lễ hội cộng đồng lớn của mọi tộc người trong năm, bởi sự no đủ đã nhìn thấy rõ. Con người cũng đến lúc cần được nghỉ xả hơi sau một quãng thời gian vất vả lao động, tạ ơn các vị thần linh đã phò trợ, giao đãi với dòng họ và bạn bè đã hỗ trợ trong năm. 
    Trong lễ hội này, người ta thường mời cả các buôn cận kề, họ hàng, hoặc con cái đã đi lấy vợ, hoặc lấy chồng ở các làng khác tới cùng chung vui, giao lưu, kết nghĩa cũng diễn ra . 
    3- Lễ cúng bến nước ( uống nước giọt, cúng máng nước) : 
    Nước là một nhu cầu thiết yếu của con người, nên đây cũng là một lễ tạ rất quan trọng của cả cộng đồng đối với các vị thần linh coi sóc bến nước, giọt nước hay máng nước.

     
    Lễ này có thể diễn ra những ngày cuối năm, khoảng tháng 12 dương lịch, nhưng cũng có thể được tổ chức vào đầu năm mới, khoảng tháng 2 hoặc 3, sau khi đã thu hoạch hoàn tất mùa vụ.
    Đến ngày đã định, cả làng phải tham gia vào việc dọn vệ sinh sạch sẽ trong ngoài buôn, bon, kon, plei, nhất là xung quanh bến nước, phát quang cây cỏ dại, thay thế những ống nước bị hư hỏng, khơi thông lại dòng chảy của nguồn nước.
    Hình thức cúng diễn ra ở mỗi tộc người có thể khác một số tiểu tiết, nhưng chủ yếu vẫn là tổ chức ngay cạnh giọt nước, bến nước, gốc đa hoặc gốc cây blang giữa đường từ giọt nước về, để cảm tạ thần bến nước và tiếp tục cầu xin một năm mới có đủ nước dùng cho người, cho cây cối ( lương thực)
    Con vật hiến sinh trong lễ này thường là heo, không ăn trâu bò.Lễ diễn ra từ 1- 2 ngày.
    Đây chỉ là ba lễ thức quan trọng nhất, trong nhiều những lễ hội của đa số cộng đồng các tộc người thiểu số Tây Nguyên. Ngoài ra tùy từng hoàn cảnh và thời gian, còn có lễ mừng dựng xong nhà Rông mới ( khi lập làng mới ) , lễ mừng chiến thắng ( những khi có chiến sự xảy ra), lễ mở cửa rừng vào thời điểm đầu mùa săn ( tháng 1-2), lễ kết giao giữa làng này với làng kia ….đều phải có lễ vật hiến sinh là heo, trâu, bò và không thể thiếu những tiếng ching chiêng, những vòng múa xoang, vì đặc biệt phần hội của các lễ thức này rất được coi trọng. Những Lễ hội này người ta đều có mời các làng cận kề cùng tham dự trong tiếng ching chêng vang lừng và rượu chảy rong róc trong cần nứa uốn cong.
     
    II- Thực trạng các lễ hội cộng đồng hiện nay ở Tây Nguyên
     
    Cho dù tính cố kết cộng đồng chưa hoàn toàn mất đi trong đời sống xã hội của các tộc người bản địa Tây Nguyên, nhưng các lễ thức và lễ hội cộng đồng, nơi giao lưu gặp gỡ, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn nhiều năm qua cũng đã bị biến dạng, thậm chí biết mất dần trong đời sống ở khá đông các buôn, bon, kon, plei.
    Người ta không còn tổ chức các lễ cúng theo kiểu truyền thống, dù là lễ thức cộng đồng hay lễ thức của gia đình cá thể,cho dẫu là tạ ơn hay cầu xin.Hoặc nếu có thì cũng theo những hình thức tương tự như người miền xuôi (như các lễ cưới, thôi nôi, tang ma, mừng thọ…), nghĩa là đám cưới thì mời nhau ra nhà hàng, các lễ lạt khác chỉ là tụ tập lại “ nhậu” với nhau một bữa.
    Không có môi trường diễn xướng dành riêng như trước đây, nên tiếng ching chêng, những câu hát dân gian đối đáp nam nữ và các điệu múa xoang cổ truyền cũng không còn nhiều dịp được cất lên, trừ những liên hoan nghệ thuật dân gian hay nghệ thuật quần chúng do ngành văn hóa các cấp tổ chức thường niên hoặc định kỳ hoạt động.
    Có nhiều nguyên nhân , trong đó có hai nguyên nhân đáng kể nhất :
    - Tín ngưỡng cổ truyền đã thay đổi, các vị Yang linh thiêng xưa kia không còn hiện diện trong đời sống cư dân Tây Nguyên. Thậm chí người ta cố quên càng nhanh càng tốt và tránh đề cập những gì liên quan tới tín ngưỡng cũ, vì e rằng bị coi là chưa thành tâm chuyển đổi .
    - Có một thời gian dài chúng ta “ đánh đổ đồng” lên án các lễ hội dân gian truyền thống đồng nghĩa với “ mê tín dị đoan”, nên có rất nhiều những quy định cấm cản đã được ban hành và thực thi, khiến cho các lễ thức cổ truyền bị mai một bởi sự ra đi của các bậc cao lão .
    Cùng với những sự đổi thay khác về phương thức sản xuất, về tập quán, lối sống…các lễ hội Tây Nguyên nói chung, lễ hội cộng đồng nói riêng, thực tế nhiều năm nay không còn hiện diện trong đời sống cộng đồng nữa.Công bằng mà nói, tại các tỉnh Tây Nguyên, ngành văn hóa và các cấp chính quyền cũng đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều cố gắng để khôi phục lại một số lễ hội truyền thống quan trọng nào đó tại cộng đồng. Tại một vài địa phương, chính quyền có sáng kiến ủng hộ bà con một khoản kinh phí, còn lại các già làng kêu gọi dân đóng góp để tổ chức lại một lễ hội cộng đồng như lễ cúng bến nước hoặc ăn cơm mới…. Nhưng việc này đâu có thực hiện được thường xuyên.Đa phần các lễ hội đều không xuất phát từ nhu cầu của chính cộng đồng, mà đó là những cuộc trình diễn “ lễ hội ” để quay phim, hay diễn ra một cách gượng ép và sai lệch,thậm chí  “giả vờ cúng” … theo hình thức “ sân khấu hóa” trong mọi cuộc liên hoan được gọi là “ văn hóa”, diễn ra từ Trung ương, vùng miền, đến địa phương.Thậm chí có những lễ hội được các đạo diễn dàn dựng , hướng dẫn nghệ nhân thực hiện theo kịch bản , rồi khoác cho cái tên và tấm áo “ lễ hội dân gian” để phục vụ du lịch.Có nghệ nhân già rầu rĩ than với chúng tôi rằng “ cúng Yang mà làm dối , sao được yang ưng cho?”
    ( Đã có lần chúng tôi chứng kiến một tiết mục tái hiện lại lễ hội có cúng Yang diễn ra trên sân khấu, trong một cuộc liên hoan văn hóa dân gian cấp vùng : thay vì làm một chiếc đế gỗ, người ta dùng ché rượu rỗng để cắm cây cột cúng vào đó. Như vậy làm sao bảo đảm sự linh thiêng của văn hóa tâm linh được ? )
    Hiện nay ở Tây Nguyên có mặt của khá đông cộng đồng các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc ( đặc biệt là các dân tộc Tày, Nùng, H’Mông, Dao…mà tổng số dân của mỗi tộc người đã cao hơn gấp nhiều lần người dân tộc bản địa ). Ở những cộng đồng này cũng tiềm ẩn một bộ phận lớn cấu thành nền văn minh nương rẫy ở Việt nam, không kém phần độc đáo và phong phú. Tuy nhiên, trên thực tế các đối tượng này hiện cũng không tránh được việc đứng trước nguy cơ văn hóa truyền thống bị triệt tiêu, trong quá trình di cư khỏi quê hương bản quán.
    Một thực tế nữa ở Tây Nguyên là những cư dân của nhiều vùng miền , đi theo chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới của Nhà nước có, đặc biệt là đi tự do tìm  đất sản xuất có khá đông đảo. Trong những chuyến đi khảo sát mới đây ( tháng 7-08) tại vùng sẽ khai thác bauxite ở Đăk Nông, chúng tôi đã gặp rất nhiều cư dân gốc Thanh Hóa,Bình Định, Hà Tĩnh…khi hỏi đến những đặc trưng văn hóa rất nổi trội của quê quán cũ , đều chỉ nhận được những cái lắc đầu “ Dù đã ổn định sản xuất đến hơn 10 năm, nhưng đời sống còn khó khăn lắm, đâu có lúc nào mà hát chèo, bài chòi, hát ví…” . Đây là điều mà chúng ta rất cần tính đến, bởi việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, trong lĩnh vực lễ hội cộng đồng nói riêng và văn hóa dân gian  nói chung, đối với đồng bào di cư,ngụ cư cũng quan trọng không kém.Nếu không ,đến một lúc nào đó, chúng ta chỉ có toàn những nét văn na ná nhau, không có gì độc đáo và riêng biệt cả.
     
    III- Một vài kiến nghị
     
    Như đã nói ở đầu tham luận, chúng tôi nghĩ rằng cách tốt nhất để bảo tồn là trả lại đời sống cho văn hóa lễ hội truyền thống, để “ nó”  hiện diện thật sự theo nhu cầu của cộng đồng các buôn, bon, kon, plei . Bởi Lễ hội xưa kia tồn tại được từ đời này sang đời khác, vì liên quan thiết thực đến  quyền lợi sống còn của cộng đồng, được toàn thể cộng đồng tự nguyện đóng góp, sẻ chia cả ý thức trách nhiệm lẫn của cải vật chất để tham gia thực hiện. Họ vừa là chủ thể lại vừa là khách thể.
    Ngày nay, muốn làm được như vậy, không phải chính quyền chỉ chi tiền ra là sẽ có, nếu lòng dân còn e ngại, không ưng. Nhất là đối với khu vực miền núi, dân tộc.
    Theo thiển nghĩ của chúng tôi :
    - Các phương tiện thông tin đại chúng cần và nên có nhiều hơn những chương trình tuyên truyền một cách chân thực để người dân thấy tự hào với truyền thống văn hóa tốt đẹp của chính mình, đặc biệt là hiểu đúng giá trị của “ văn hóa lễ hội”
    (Tại sao phải nói điều này, vì nhiều khi những nhà báo truyền hình thực hiện giới thiệu văn hóa dân gian theo cách nghĩ, cách hiểu của họ, chứ không phải theo đúng tình thần và cách thức tiến hành của tộc người )
    - Lãnh đạo các địa phương nên bàn bạc thống nhất với ngành văn hóa, chọn một ngày truyền thống của cư dân bản địa, gắn với các ngày lễ trong dương lịch hoặc âm lịch, hoặc ngày thành lập cơ sở để tổ chức “ Ngày hội văn hóa các dân tộc” định kỳ của chính địa phương mình.Vừa tăng cường giao lưu văn hóa vùng miền, vừa củng cố mối đại đoàn kết toàn dân.
    - Tại các buôn, bon, kon, plei khuyến khích bà con tổ chức các lễ hội tập thể, hoặc hình thành những lễ hội mới, mang tính hội nhiều hơn lễ của cả cộng đồng như : “ lễ mừng thọ” những cụ cao tuổi trong ngày 1-10 ( Quốc tế người cao tuổi); lễ tôn vinh các bà mẹ vào ngày 8-3; “Lễ uống nước giọt” vào những ngày gần Tết Nguyên đán; hay “lễ ăn cơm mới” vào dịp thu hoạch xong mùa vụ.
    Tất cả những lễ này, đơn giản bớt phần lễ,chú trọng tăng phần hội và sự giao lưu thân thiện, luân phiên giữa các làng dân tộc ( kể cả bản địa và dân di cư ) lân cận.Nhất là việc giới thiệu những đặc trưng văn hóa riêng của vùng miền, trong một cộng đồng mới rộng hơn, đa dạng hơn.
    - Bên cạnh đó, đối với miền núi và dân tộc,  là việc bổ xung đội ngũ những cán bộ chuyên nghiệp tham gia công tác bảo tồn văn hóa truyền thống, là chính những người dân tộc bản địa, vừa được đào tạo về nghiệp vụ, vừa có sự am hiểu thích đáng về văn hóa tộc người, đảm bảo thuyết phục được bà con tin và làm theo.
    Lễ hội sẽ có giá trị với cộng đồng, nếu đáp ứng được phần nào nhu cầu tâm linh và lòng tự hào đối với truyền thống văn hóa tộc người,đồng thời phải do chính bà con bàn bạc lựa chọn chi tiết gì của lễ thức cần giữ lại, cái gì không cần, xắp xếp lớp lang, tổ chức thực hiện; chứ không phải nhằm phục vụ mục đích thu hút khách du lịch và do các đạo diễn không phải người của cộng đồng tộc người, xây dựng kịch bản.
    Việc khôi phục lại môi trường diễn xướng trong các lễ hội mang tính cộng đồng, sẽ góp một phần thích đáng vào mục tiêu mà chúng ta đang quan tâm, là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân gian cố truyền không chỉ của của nền văn minh nương rẫy, đang có nguy cơ biến mất khỏi đời sống cộng đồng các tộc người, mà cả không gian văn hóa làng xã Việt nói chung.

    Bình luận

    Bài viết cùng loại

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    ÂM NHẠC DÂN GIAN Ê ĐÊ DRAO

    Khôi phục môi trường diễn xướng Tây Nguyên, khó khăn, nhưng là việc cần làm

    Nghệ thuật diễn xướng Tây Nguyên

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    Luật tục TN với môi trường sinh thái

    Lễ Chrai của người Mnông Gar

    Bó củi hứa hôn của cô gái Jẻ

    Tục ăn trâu ở Tây Nguyên

    Lễ hội Tăm nghét

    Những trò chơi dân gian Tây Nguyên

    Lễ xoay cột cầu mùa

    Độc đáo kiến trúc nhà Tây Nguyên

    Thủ thỉ thù thì đinh tút Jẻ ,Triêng

    Bì bộp mùa rẫy Klông put

    Ẩm thực K"ho

    Đám cưới Mnông Rlâm

    Ấm nồng làn điệu dân ca Cor

    Gạo nếp với người dân làng Típ

    Rực cháy một màu hoa!

    Luật tục Tây Nguyên với gia đình & hôn nhân

    Vài nét về tộc người Pu Noong Preh

    Văn hoá truyền thống Tây Nguyên trong ổn định & phát triển

    Đôi điều về người Bih ( Êđê Bih?)

    Đôi điều về nhà Rông

    Kể vài điều về nhà mồ Tây Nguyên

    NGhề săn bắt và thuần dưỡng Voi ở Buôn Đôn

    Áo vỏ cây

    Nghề dệt vải

    Vài nét về tộc người Mnông

    Vấn đề " GIà làng" ở Tây Nguyên