Trung tâm Phát triển  Nông Thôn Tây Nguyên

Trung tâm Phát triển Nông Thôn Tây Nguyên

  • 0914067495 - 02623.798798
  • thanuxa@gmail.com - taynguyentrungtam@gmail.com
  • Tây Nguyên hiện nay không chỉ là một vùng kinh tế mở, chuyên canh các loại cây công nông nghiệp dài ngày & ngắn ngày, mà còn là một miền đất đa văn hoá, với sự hiện diện của 42/54 dân tộc anh em trong cả nước.Sự thay đổi tín ngưỡng thờ phụng, giao thoa văn hoá, sức tấn công của nền kinh tế thị trường...là những nguyên nhân làm biến dạng và có nguy cơ biến mất nghệ thuật diễn xướng truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa . Tìm hiểu kỳ những nét đặc trưng, ngõ hầu góp phần cùng nhau gìn giữ bản sắc độc đáo của nghệ thuật truyền thống Tây Nguyên,làm sinh động thêm cuộc sống hiện đại hoá-công nghiệp hoá, đó là một trong những điều nên và cần làm.
    1-Vài nét về nghệ thuật diễn xướng dân gian các dân tộc bản địa Tây Nguyên
    Trong đời sống dân gian các dân tộc Việt nam nói chung,những dân tộc thiểu số sinh sống trên dãy Trường Sơn – Tây Nguyên nói riêng, có rất nhiều hình thức và môi trường để nghệ thuật diễn xướng phát triển . Thường các hình thức sinh hoạt và biểu đạt của nghệ thuật diễn xướng, đều mang tính cộng đồng rất cao.
    Nghệ thuật diễn xướng dân gian xuất hiện trong ba môi trường chính :
    Trong các sinh hoạt đời thường
    Trong lao động sản xuất
    Trong các lễ thức theo tín ngưỡng & các lễ hội của cộng đồng.
    a)Trong lao động sản xuất:
    Dù canh tác nương rẫy như ở các vùng miền núi , hay sản xuất lúa nước như các vùng đồng bằng, thì với tác dụng giải trí, thư giãn sau những giờ , hoặc đang lúc lao động, cho quên bớt nỗi nhọc mệt, nghệ thuật dân gian không chỉ bắt nguồn mà còn gắn bó mật thiết với lao động sản xuất.
    Với miền đồng bằng ( chỉ giới hạn ở khu vực miền Trung), thường hay có các loại hò, hát ví, nảy sinh ra trong những lúc nam nữ cùng nhau lao động tập thể.Ví dụ như các loại hò mái đẩy, hò mái nhì, hò giật chì, hò kéo thuyền...dành cho những hoạt động trên sông nước.Các loại hát ví phường vải, ví dặm, lý đất giồng, lý con sáo...ở những cuộc tụ tập canh cửi trong nhà, hay lao động trên đồng ruộng.làn điệu có thể thay đổi tuỳ theo tính chất âm nhạc dân gian đặc trưng của từng vùng, nhưng lời thì thường đề cập tới bất cứ vấn đề gì diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Từ những tình cảm với cha mẹ, vợ chồng, tình yêu trai gái, tình cảm quê hương, cách đối nhân xử thế, có khi lại là những câu đố thử tài cao thấp, kinh nghiệm sản xuất trong dân gian...
    Ví như điệu hò ba lý của vùng miền Trung Trung bộ có những câu rất gần gũi với lao động trong cuộc sống đời thường , như “ rủ nhau lên núi khai hoang, chẻ tre đan xịa cho nàng phơi khoai ” .Hoặc bài lý kéo chài Nam bộ có câu “ Nhậu cho tiêu hết mấy chai, bỏ ghe nghiêng ngửa không ai kéo chài”...
    Tương tự như các loại hình hát ví, hát lý hoặc các điệu hò của vùng miền xuôi,cùng chung tác dụng thư giãn sau những giờ “ mặt sấp lưng ngửa”, bà con các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng có những điệu hát, loại nhạc cụ chỉ xử dụng trên nương rẫy, thường được chế tác bằng nguyên vật liệu vô cùng đơn giản, có ngay trên rẫy,như : kèn đinh buôt plé làm bằng cọng bí, đinh buôt mdiê làm bằng thân rạ của người Êđê; kèn Mbuốt của người Mnông, K’Ho, Mạ, làm bằng cây nứa và trái bầu; Ting gling, Tr’ưng nước làm ngoài suối của người Bânar, Mnông có loại làm bằng nứa, có loại bằng đá kêu..xua con thú hoang phá lúa bắp...Klông pút của người Sê Đăng, Đinh Pah của người Êđê, đều có xuất xứ từ chiếc ống đựng lúa giống, bắp giống gieo trồng trên rẫy.
    Các làn điệu dân ca lại càng đa dạng hơn :
    Đi xúc cá người Cơ Tu hát
    “ vừa thả lưới vừa bơi/ Cá mắc nhiều vô lưới/ Trắng như măng mới nổi/ Trôi bồng bềnh trên sông”
    Người Bânar hát khi gieo hạt :
    “ bao ngày nó nứt vỏ/ bao đêm nó nảy mầm/ Nó nở lời đâm lãi/ được lúa được gạo/ được rẫy được nhà”
    Tìm được đõ ong người Êđê có câu :
    “ Dập dồn tổ lớn tổ to/ cây cao cũng dò lên cao/ Ong ơi hãy đậu cho sây”
    Khi đi phát rẫy, người Châu mạ hát rằng :
    “ Mau mau ta dọn rừng/ Đốt sạch cây đã phát/ Hàng hàng cây ăn lửa ”
    Anh thợ rèn Sê Đăng vốn rất nổi tiếng khắp cao nguyên Trung phần về nghè rèn dao và vũ khí, vừa quai búa vừa hát:
    “Giơ cánh tay lên/ Thụt ống bễ xuống/Than cời sắt nung/ Sắt hồng bén lửa ”..........
    Cứ như thế, âm nhạc đồng hành cùng mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người Tây Nguyên.Thử hình dung mà xem : giữa rừng già , bên bờ suối, trên chòi ven rẫy lúa, rẫy bắp, khi tiếng nhạc lời ca cất lên, không chỉ cái nắng gió gay gắt của mặt trời nhiệt đới cao nguyên,mà nỗi mệt nhọc sau giờ lao động, cũng tan biến đi theo niềm vui giản dị ấy.từ lâu con người ĩa khẳng định “ Âm nhạc bắt nguồn từ lao động” là vì vậy.
    b) Trong cuộc sống đời thường :
    Những người đã từng có thời gian sinh sống và hoạt động ở Trường Sơn-Tây Nguyên, đều biết rõ đặc trưng khí hậu của miền đất này là 6 tháng mưa, 6 tháng nắng.Tuy có nhưng tiểu vùng khí hậu thất thường hơn, như khu vực huyện Krông Pa ( Gia Lai)một năm chỉ có 3 tháng mưa còn lại 9 tháng nắng. Hoặc như ở khu vực huyện M’Drăk ( Đăk lak) mùa mưa đến muộn những 4 tháng, hay Đà Lạt mùa đông thường kéo dài hơn những nơi khác... Nhưng tựu trung khí hậu Tây Nguyên vẫn chia làm hai mùa rõ rệt.
    Thiên nhiên chi phối mọi hoạt động của con người.Có một vị nữ tiến sỹ dân tộc học người Ucraina, trong một lần đến làm việc ở Tây Nguyên, đã bày tỏ lòng khâm phục, rằng “ bà con tự tổ chức lấy cuộc sống của mình một cạc rất thông minh, phù hợp với điều kiện thiên nhiên của mỗi vùng cư trú”. Vậy chúng ta hãy cùng thử xem họ làm gì trong những ngày mưa dầm kéo dài, mỗi buôn, bon, kon, plei trở thành một “ ốc đảo” giữa rừng đại ngàn nhé? Và làm gì giữa những tháng nắng hạn đổ như lửa đốt, không một loại cây lương thực nào mọc nổi ? Cứu cánh của họ chính là những sinh hoạt văn hoá dân gian của đời sống buôn làng, đặc biệt là nghệ thuật diễn xướng, đã xua đi cái nhàm chán, đơn điệu hàng ngày.
    Người ta hay nói nhiều đến thể loại Trường- sử thi của các dân tộc Tây Nguyên. Chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để tin rằng : loại hình văn chương truyền miệng này, đã ra đời trong những hoàn cảnh lao động vừa được nêu ở trên.Ở vùng Mnông, có khi người kể được mời ra rẫy, không phải là chung tay suốt lúa như các thành viên trong gia đình,cũng không phải ngồi chờ cho đến khi người ta nghỉ ngơi, mà phải kể theo bước chân trên cánh đồng của những người thợ bạn, giúp họ vừa làm việc vừa giải trí.
    Một môi trường diễn xướng nữa là : trong những ngày dài bị mưa chia cắt, bên bếp lửa, cạnh những thân củi gộc cháy “ suốt ngày dài lại đêm thâu”, người ta còn biết làm gì hơn là tập trung nhau lại nghe các nghệ nhân già kể về những tù trưởng dũng mãnh, những cuộc chiến tranh bộ lạc để giành lấy ảnh hưởng và đất đai, hay những người con gái đẹp, những mối tình chung thuỷ vượt qua mọi hoàn cảnh éo le,những sự tích tên sông, tên núi....Thông qua những nhân vật anh hùng, chiến đấu chống kẻ ác, bảo vệ buôn làng, những mối tình trai gái, nhưng chính là sự răn dạy những điều hay,điều phải, thái độ ứng xử giữa con người với con người, với thiên nhiên, của các nghệ nhân với thế hệ trẻ.
    Nghệ nhân kể trường ca có khi ngồi nguyên một chỗ hát, có người vừa hát vừa minh hoạ bằng động tác. Lại có những người vừa đàn vừa hát- kể, làm tăng thêm tính hấp dẫn của nội dung câu chuyện. Người nghe có thể ngồi hết đem này qua đêm khác lắng nghe mà không biết chán.
    Phổ biến và đa dạng nhất vẫn là lối hát giao duyên nam nữ.Những đêm trăng sáng, để tỏ tình, người con trai Bânar, Sê đăng tửng tưng gảy Ting ning.Chàng trai Jrai nỉ non cùng người con gái anh yêu bằng đàn Kni .Sáng sớm mờ sương, trong tiếng chày giã gạo bậm bịch của những người vợ tảo tần, có tiếng Mbuốt du dương dỗ con ngủ tiếp của những người đàn ông Mnông.Đám phụ nữ Êđê tụ tập thành vòng tròn , mỗi người một ống kèn Đinh Tút nhỏ to tâm sự .
    Chuyện cổ tích Jẻ kể rằng, nhớ cha mẹ đêm đem ngủ canh rẫy, chị gái lấy ống đựng lúa bắt chước tiếng dế kêu, dỗ cho em quên khóc. Đinh Tút Jẻ Triêng ra đời như thế. Klei dưm Êđê thì mách rằng : Cha mất, thấy các anh chị khóc khản cả tiếng, em út mới lấy 6 ống nứa dài ngắn làm kèn thay lời khóc than cho 6 anh chị em...Đó là sự ra đời của kèn Đinh năm...Đơn giản như hạt bắp, hạt lúa ngoài rẫy vậy thôi.
    Cũng như trong lao động sản xuất, lời của các bài ca dân gian sinh hoạt thường rất phong phú và đa dạng . Có khi là lời ngợi ca quê hương tươi đẹp :
    “ Mênh mông bãi sông Ba/ bằng phẳng bãi sông Ayun/ làng ta bát ngát”
    Có lúc là lời gia đình nhà trai tỏ bày với nhà gái trong lễ cưới, như : “ Nhà trai nhiều chíng chêng
    “ Có nồi to nồi nhỏ/ Thật lòng gả con gái cho chúng tôi/ Chúng tôi sẽ trọn đời sống với con ông bà”
    Có khi là lời tuỉ thân của chàng trai mồ côi :
    “ Thân mồ côi một mình một thân / Quả mồ cút một mình một quả”
    Hay là lời người chồng thống thiết khóc vợ :
    “ bà bỏ tôi đi trước/ mấy gian nhà trống mình tôi buồn khổ”
    và lời con khóc cha :
    “ Sao cha mất sớm/ Con còn nhỏ đi rừng chưa được/ vắng cha như thể con gà đui chui ra”
    Nhiều nhất vẫn là những câu hát đối đáp giao duyên nam nữ .Chàng trai cô gái Châu Mạ hát rằng :
    “ lược ngà voi chàng cài mái tóc /Mũi dao chàng cong hình vây cá/Khiến em nằm đêm không bén chiếu bén sàn”
    để rồi ước muốn mãnh liệt hơn :
    “ Ta nằm bên nhau đến lúa sớm chín đỏ/ Cho đến lúc lúa muộn đâm chồi”
    Trai gái Êđê dường như tình tứ hơn :
    “ Ướt váy mắc cành cây Tung/ Ướt khố phơi cành cây Riêng/ Ươt người ta cùng sưởi bên lửa hồng
    Sin h hoạt đời thường cũng chính là một trong những môi trường rộng lớn để nghệ thuật diễn xướng dân gian tồn tại và phát huy.
    c) Trong lễ thức và lễ hội
    Thuở xa xưa, khi các tôn giáo ngoại lai chưa xâm nhập được vào tín ngưỡng Tây Nguyên, hầu như chỉ tồn tại khái niệm “ Vạn vật hữu linh” . Nói cách khác, các cư dân bản đại ở Tây Nguyên theo tín ngưỡng đa thần. Các vị thần linh không có hình hài cụ thể, ngự trị ở khắp mọi nơi, trong mọi vật.Đời sống và tổ chức xã hội của các yang không có gì khác với người trần, thậm chí còn có quan hệ họ hàng, gả bán con cái cho nhau. Các thần linh cũng vui buồn ,hờn giận, yêu ghét giống như con người.Do vậy ma flàm việc gì, nêu skhông cúng kiếng đầy đủ, bẩm báo, cầu xin chu đáo, rất dễ dẫn đến thất bại. Những khi mưa gió thuận hoà, mùa màng bội thu,phải có sự tạ ơn chu đáo và tương xứng với sự phù trợ của các thần linh, mà mình đa xnhận được.
    Mọi lễ thức ở Tây Nguyên đều xoay quanh hai trục chính là nông lịch và những mốc quan trọng của vòng tròn một đời người..Ngoài ra còn có các lễ nghi khi tổ chức kết nghĩa với bộ tộc hoặc con người bộ tộc khác, lễ thức liên quan đến những cuộc chiến tranh...
    Với lễ nghi nông nghiệp :
    Thường tiến hành thường xuyên trong năm. đầu tiên là lễ cúng bến nước ( có nơi gọi là lễ Uống nước giọt) vào đầu năm.Sau dó là các lễ cầu mưa, dọn rẫy, trỉa lúa ( đặc biệt là việc gieo đám lúa dùng để cúng Yang – do chính tay người phụ nữ chủ nhà gieo trỉa, suốt lúa, giã gạo và nấu nồi cơm cúng), làm cỏ, thu hoạch gùi lúa đầu tiên và lễ ăn cơm mới. Một số tộc người khác như Sê Đăng, Rngao, Mnông còn có lễ đóng và mở cửa kho lúa.. Tuỳ theo lễ lớn nhỏ mà sau các lễ tất nhiên là hội.
    Nhân nói đến lễ hội, xin được nói đôi lời về tục đâm trâu ở Tây Nguyên. đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hoá hoặc bảo vệ động vật hoang dã ở phương Tây lên án đâm trâu là dã man, là vi phạm luật và giết hại động vật hoang dã. Một luồng ý kiến khác ở Việt nam thì cho rằng “ con trâu là đầu cơ nghiệp” của nhà nông, đâm trâu là phí phạm sức kéo . Vậy thực chất việc này ra sao?
    Ở Tây Nguyên, bà con các dân tộc bản địa nuôi trâu béo mượt , thậm chí xưa kia còn nuôi hàng đàn lên tới cả trăm con. Nhưng không phải để dùng cho cày kéo như con bò , kể cả con voi ( Thế nên những ngày đầu giải phóng ở Đak Lăk mới có chuyện dùng voi đi cày để học làm ruộng nước ), mà chỉ dùng vào việc mua bán, đổi chác. Trên hết là làm lễ vật hiến sinh trong các lễ cúng Yang. Ít thì một con, nhiều hàng chục con Nhưng không phải lúc nào người ta cũng ăn trâu, mà người Mnông phải thu hoạch được từ 100 gùi lúa trở lên, khi ấy cần phải tạ ơn xứng đáng với các vị thần đã phù hộ, ban cho một vụ mùa no đủ và dư thừa.Không có cái gọi là “ lễ hội đâm trâu” hoặc “ lễ hội rượu cần ”, mà chỉ có tục “ăn trâu” trong một lễ cúng quan trọng nào đó, liên quan đến một sự kiện lớn của cộng đồng hay của gia đình.Nếu không có ăn trâu, lễ đó chưa được coi là lễ trọng, cho dù cho thịt vài con bò đi nữa.( Chính dòng họ của gia đình chúng tôi - ở Buôn Sut,thị trấn Ea Pôk ,huyện Cư M’gar, Đăk Lak- khi bàn chuyện làm lễ bỏ mả cho người cậu qua đời đã nhiều năm, mặc dù đã có ba con bò, những người cao tuổi trong họ vẫn quyết định phải có cho được một con trâu. Cho dù chỉ là trâu “ 1 em” , tức trâu tơ, sừng chưa dài. Vì cho rằng như vậy mới xứng với địa vị của người chủ gia đình là ông Y Ngông Niê Kdam, lúc đó đang là Chủ tịch Tỉnh ).
    Đó chính là quan niệm tín ngưỡng có vay có trả. Chỉ tiếc rằng những người làm phim về đề tài này, thường không chú ý đến những khía cạnh nhân bản trong tập quán, mà chỉ chú trọng khai thác các hình ảnh đâm, cắt, mổ...để người Tây Nguyên mang tiếng là dã man, là không thượng võ tý nào, khi đâm một con vật đã bị buộc chặt.Người ta không hiểu rằng : nếu để con trâu có cơ hội lồng lên, làm đứt dây buộc, hoặc làm bị thương một ai đó, thì đấy là biểu hiến sự bất bình của các thần linh, và tai hoạ sẽ sẵn sàng giáng xuống cộng đồng hoặc gia chủ.Họ lại càng không biết rằng : để tiến hành lễ hiến sinh, người ta đã phải có lời thưa gửi với không chỉ các Yang, mà cả với con vật sẽ hy sinh thân mình vì sự sống còn của buôn làng. Những bài cúng tế, khóc trâu của các thày cúng, đã trở thành những áng văn chương hoàn mỹ cả về nội dung, vần điệu lẫn câu cú.Đó chính là nét đặc sắc của nền văn minh nương rẫy và tín ngưỡng đa thần, khác với văn minh sông nước của miền xuôi.
    - Với các nghi lễ vòng đời :
    Bên cạnh các lễ thức nông nghiệp liên quan đến cả một cộng đồng, hoặc một gia đình, còn có các lễ nghi trong suốt vòng đời của một con người.Khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, bà mụ sẽ làm lễ thổi tai sau đó là đặt tên. Không chỉ để các vị thân linh, mà còn cả cộng đồng chứng giám và công nhận sự có mặt của một thành viên mới.Theo năm tháng, sẽ còn có các lễ thành niên, lễ cắt việc, lớn hơn là các lễ thức cưới hỏi cho thanh niên, chúc sức khoẻ cho người già, tiễn đưa người đã chết về thế giới bên kia, bỏ mả cho linh hồn siêu thoát để đầu thai vào kiếp khác, dựng ngôi nhà sàn mới, săn bắn, đổi chác voi, chiêng ché, làm nhà Rông....đều phải có sự cúng tế.
    Tuy nhiên, điều quan trọng là sau phần lễ thức sẽ đến phần hội.Đây là dịp để cộng đồng chung tay gánh vác, chia sẽ việc chung việc riêng. Cũng là dịp anh chị em trong dòng họ gặp nhau, gái trai tụ tập trò chuyện, làm quen, nên duyên phận. Và đó cũng là môi trường tốt nhất cho nghệ thuật diễn xướng sinh sôi, phát triển.
    Lễ hội là một trong những hình thức sinh hoạt cộng đồng lớn nhất, phát huy cao nhất truyền thống văn hoá cuả mỗi tộc người.Từ nghệ thuật tạo hình, chạm khắc gỗ, đến nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật ẩm thực, diễn xướng ca, múa, nhạc dân gian, lẫn văn học truyền miệng....đều tập trung hiện diện ở đây.Bất cứ lễ hội nào cũng phải có ghè rượu cần và tiếng chiêng.đầu tiên đây là phương tiện thông tin, thông báo với không chỉ các vị thần, mà còn với bà con buôn gần buôn xa.Vì nghe bài bản và nhịp điệu chiêng nổi lên, người ta có thể biết gia đình ấy, buôn ấy hôm nay có việc vui hay buồn.Tiếp đó là dịp vui chơi giảitrí. Nếu có nhạc cụ nào bị cấm thổi trong nhà như kèn Đinh năm ( Êđê), Tơ diêp ( Bânar), klông pút ( Sê Đăng), Đinh Tut ( Jẻ)...thì đến ngày lễ hội, mọi điều cấm kỵ này đều được bỏ qua.Người ta có thể thoả sức thổi mọi loại sáo, kèn, hát mọi làn điệu dân ca, thậm chí đua tài trong hát đố...Cốt sao ai dến dự cũng vui là được.
    II- Phát huy vốn nghệ thuật truyền thống trong đời sống hiện tại :
    Trải qua nhiều đổi thay, đặc biệt là sự đổi thay của phương thức sản xuất, chuyển từ quản canh, độc canh cây lúa rẫy, sang thâm canh cây công nghiệp dài ngày, cấy lúa nước hai vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và sản lượng cây trông, vật nuôi. bên cạnh đó là sự giao thoa với đa dạng văn hoá của cư dân mọi miền, tập trung về sinh sống trên cao nguyên miền Tây - Trường Sơn, đời sống văn hoá Tây Nguyên đã có nhiều biến đổi cơ bản.
    Trước tiên là sự thay đổi tín ngưỡng.Từ tín ngưỡng đa thần, chuyển sang tin và thờ phụng độc thần .Từ đối tượng thờ phụng vô ảnh, đến hình ảnh rõ rệt của các thánh thần. Bất cứ một con người nào cũng cần có chỗ dựa về tâm linh.Khi dân trí thay đổi, sự chuyển đổi tín ngưỡng là điều tất yếu.Nhưng điều đáng bàn là tiếp theo sự đổi thay đó,là việc từ bỏ cả những yếu tố đã làm nên bản sắc độc đáo của văn hoá tộc người(ví như tục làm và uống rượu cần, việc đánh chiêng trong mọi biến cố của cộng đồng...chỉ vì liên quan tới hình thức giao lưu với các Yang của tín ngưỡng cũ). Những năm đầu miền Nam mới giải phóng, những người làm công tác vanư hoá và nghiên cứu sưu tầm đã thực sự lo ngại khi bà con những vùng theo đạo Thiên Chúa, đã không còn duy trì hai hình thức sinh hoạt trên nữa.Vào những năm của thập kỷ 90 ( thế kỷ XX), là sự xâm nhập ồ ạt có tính toán của đạo Tin Lành . Văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số Tây Nguyên càng mấp mé trên bờ vực của sự mất còn.
    Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tự do tín ngưỡng. Những những giá trị tình thần mà chúng ta có, là bản sắc riêng của mỗi dân tộc.Khi nghị quyết V của BCHTW Đảng về việc “ xây dựng và phát triển một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” ra đời, có rất nhiều người nêu thắc mắc “ Như thế nào gọi là bản sắc văn hoá dân tộc ?”. Thưa rằng, VHDT có ở mọi nơi, trong cách ứng xử,ăn mặc, trong kiến trúc nhà cửa chùa chiền, trong văn học nghệ thuật, trong cả phương thức sản xuất, canh tác, mà các nhà khoa học đã khoanh lại trong hai phạm trù : văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể.
    Việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc không thể là việc làm một sơm một chiều, của một người hay một ngành, mà là công việc phải kiên trì và kéo dài hàng chục năm, bao gồm cả việc kêu gọi và đánh thức lòng tự hào dân tộc của mọi người.Đặc biệt đối với Tây Nguyên, cần hướng dẫn cái gì nên giữ, cái gì nên loại bỏ, để bà con người dân tộc thiểu số không chỉ hiểu biết, mà còn tự nguyện tham gia vào việc gìn giữ bản sắc của chính dân tộc mình. Có như thế mới bền vững. Do đó mà bên cạnh những liên hoan của tỉnh, khu vực diễn ra thường niên vài ba năm một lần, rất nên khuyến khích các sinh hoạt văn hóc nghệ thuật ở ngay từng địa phương, thông qua các lễ thức vòng đời của mỗi gia đình, những lễ nghi nông nghiệp trong phạm vi buôn, bon, kon, plei; gắn với cả những ngày lễ của đoàn thể...Tất nhiên cần giảm đi những hình thức cũ rườm ra, tốn kém cả vật chất lần thời gian, khuyến khích gọn phần lễ, tăng các hình thức vui chơi tập thể. Gia đình có thể mời các nghệ nhân hát- kể trường ca đến góp vui...
    Bên cạnh đó, chính quyền, đoàn thể các cấp nên khuyến khích việc tru
    yền dạycách chế tác và diễn xứong dân ca, nhạc cụ cổ truyền trong lớp trẻ. Cáctrường nghệ thuật những địa phương miền núi,dân tộc cần có giờ dạy dân ca. làm thế nào để thanh thiếu niên bây giờ biết yêu quý và biết xử dụng các loại nhạc cụ truyền thống, biết hát các làn điệu dân ca. Hiện nay ở một số ít buôn, bon, kon,plei đã ý thức được điều này. Một số huyện ở Gia Lai, Đăk Lăk...đã có hẳn liên hoan cồng chiêng dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên, bà con rất hoan nghênh.
    Làm được những việc trên, không chỉ cần kinh phí,. mà còn cả tấm lòng, sự sáng tạo của cơ quan hoặc người đứng ra tổ chức. làm sao để nghệ thuật diễn xướng dân gian truyền thống các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên không mất đi, mà vẫn luôn luôn tồn tại trong chính cộng đồng tộc người. Đó mới là vấn đề chính.

    Bình luận

    Bài viết cùng loại

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    ÂM NHẠC DÂN GIAN Ê ĐÊ DRAO

    Lễ hội cộng đồng Tây Nguyên

    Khôi phục môi trường diễn xướng Tây Nguyên, khó khăn, nhưng là việc cần làm

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    Luật tục TN với môi trường sinh thái

    Lễ Chrai của người Mnông Gar

    Bó củi hứa hôn của cô gái Jẻ

    Tục ăn trâu ở Tây Nguyên

    Lễ hội Tăm nghét

    Những trò chơi dân gian Tây Nguyên

    Lễ xoay cột cầu mùa

    Độc đáo kiến trúc nhà Tây Nguyên

    Thủ thỉ thù thì đinh tút Jẻ ,Triêng

    Bì bộp mùa rẫy Klông put

    Ẩm thực K"ho

    Đám cưới Mnông Rlâm

    Ấm nồng làn điệu dân ca Cor

    Gạo nếp với người dân làng Típ

    Rực cháy một màu hoa!

    Luật tục Tây Nguyên với gia đình & hôn nhân

    Vài nét về tộc người Pu Noong Preh

    Văn hoá truyền thống Tây Nguyên trong ổn định & phát triển

    Đôi điều về người Bih ( Êđê Bih?)

    Đôi điều về nhà Rông

    Kể vài điều về nhà mồ Tây Nguyên

    NGhề săn bắt và thuần dưỡng Voi ở Buôn Đôn

    Áo vỏ cây

    Nghề dệt vải

    Vài nét về tộc người Mnông

    Vấn đề " GIà làng" ở Tây Nguyên