Trung tâm Phát triển  Nông Thôn Tây Nguyên

Trung tâm Phát triển Nông Thôn Tây Nguyên

  • 0914067495 - 02623.798798
  • thanuxa@gmail.com - taynguyentrungtam@gmail.com
  • Có người cho rằng tục đâm trâu của Tây Nguyên là dã man, là vi phạm luật bảo vệ động vật hoang dã, là phí phạm sức kéo...vv...và ...vv. Xin được tỏ bày cùng mọi người đôi điều về tập tục này .
    Con trâu ở Tây Nguyên không phải là vật nuôi để dùng cày kéo ( khác với con bò), mà là con vật gắn liền với tin ngưỡng đa thần của cư dân bản địa.Theo thần thoại của một số tộc người Tây Nguyên, con trâu còn là “ Vật tổ” ( do vậy mà một số tộc người có tục cưa răng cho giống tổ) . Do đó người ta nuôi trâu chỉ để làm lễ vật hiến sinh trong các lễ cúng quan trọng, hoặc để trao đổi những vật dụng quý, như chiêng, ché, voi...chứ hoàn toàn không xử dụng để cày bừa hay kéo xe như ở miền xuôi.Đối với những lễ thức chung của cộng đồng, hoặc lễ lớn của những gia đình giàu có, như các cuộc lễ : ăn cơm mới, cúng bến nước, bỏ mả, ăn mừng thắng lợi, mừng năm mới....Nếu không có “ ăn trâu” thì chưa được coi là một lễ trọng. Tuỳ theo mức độ non già của trâu ( căn cứ vào độ dài và cong của sừng), đồng bào gọi “ trâu một em hoặc hai em”, tức đã sinh để một, hai lần, mà đánh giá lễ lớn hay nhỏ.Trâu càng già, sừng càng dài, lễ càng được coi là lớn.
    “ Ăn trâu” ( tên gọi chính thức của tục hiến sinh này, “ đâm trâu” là cách gọi của người miền xuôi ) trong các lễ thức cúng Yang thì bất cứ tộc người nào ở Tây Nguyên cũng có.Tuy nhiên, không phải tộc người nào cũng có nghi lễ đâm trâu.Có nơi,như trong các lễ của người Êđê, người ta chỉ giết trâu , cắt lấy đầu, đuôi bày lên mâm cúng, chứ không có nghi lễ đâm trang trọng.Đa số các tộc người khi cũng có ăn trâu đều có nghi lễ cụ thể, kết hợp với múa hát.
    “ Khóc trâu” là một trong những bài ca có giá trị nghệ thuật và mang tính nhân văn sâu sắc. Nội dung là lời tạm biệt , cám ơn con vật đã vì sự tồn tại sống còn của cả cộng đồng mà chịu làm vật hiến sinh.Nghi lễ này hầu như tộc người nào cũng có. Nghệ nhân A Tung Vẻh, người dân tộc Ca Tu ở Quảng Nam, đã từng đoạt huy chương vàng tại liên hoan ca múa nhạc dân tộc “ Sơn ca 91” tại Đà Lạt, và liên hoan văn hoá cồng chiêng Buôn Ma Thuột 1993, cũng với bài ca “ khóc trâu’.
    Để chuẩn bị đâm trâu, dù là lễ của cả plei hay của một gia đình, người Jrai cũng có sự phân công một số trai làng vào rừng tìm chặt hạ mang về một cây Blang ( bông gòn, cây gạo) lớn, một số loại cây khác nhỏ hơn và 8 cây tre, cao khoảng 5-6m.Họ cũng đem về nhiều dây rừng, hoặc mây để chuẩn bị dựng cột và bện dây buộc trâu.Cột này tương tự như cây nêu của người Kinh. Người Chu Ru gọi là K’nơng, người Êđê gọi cột Gơng, Người Jrai gọi Gơng blang...
    Địa điểm dựng cột buộc trâu, nếu làm riêng của gia đình thì ngay giữa sân nhà. Nếu là lễ của buôn, bon, kon, plei thì cây nêu sẽ dựng trước sân nhà Rông ( nhà làng).Đối với các gia đình làm lễ cầu bình an, ăn mừng lúa mới, bỏ mả...địa điểm trồng cột nêu sẽ do thày cúng chọn và quyết định.Trước hôm làm lễ một ngày, phải hoàn thành việc dựng cây nêu. Cột nêu của người Jrai sẽ được trình bày như sau :
    Cây Blang cao 5-6m, trên ngọn có một đàn thờ nhỏ. Đây là nơi hồn của tổ tiên, ông bà,hay những người đã mất và các vị thần linh tạm trú ngụ trong thời gian được mời về tham dự lễ hội.Chung quanh đàn thờ có cắm nhiều lưỡi dao và một hình trăng lưỡi liềm, tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực của các Yang. 8 cây tre trồng xung quanh cây cột chính.Trên ngọn buộc 8 sợi dây rừng buông lòng thòng dài xuống tận sát mặt đất. Mỗi sợi dây buộc nhiều những miếng gỗ nhỏ, vẽ màu sắc rực rỡ, như một cách bày tỏ niềm vui mừng chào đón đón tổ tiên và các thần linh về dự lễ.Chung quanh cột nêu chính còn có thêm 4 cột nhỏ cao chừng 2m, để buộc trâu cúng.Thân cột này có vẽ hoa văn, hình chim, hoa lá...Nếu cúng một trâu thì trồng một cột, nếu cúng nhiều trâu, mỗi con phải một cột riêng.
    * Nghi thức đâm trâu :
    Các công việc chuẩn bị đã xong, thày cúng đầu buộc khăn đen, mặc áo choàng hoa đỏ, hoặc choàng tấm mền thổ cẩm mới bắt đầu khấn vái thỉnh mời các Yang và linh hồn của những người đã mất. Sau đó đến bài “ khóc trâu”. Nội dung đại ý như sau :
    “Lâu nay trâu làm bạn với người trong nhà, trong buôn như anh em.Nay vì sự no đủ của buôn sang ( hay gia đình), xin dâng trâu lên các thần linh làm đồ tế lễ.Trâu vui lòng nhé, ơ trâu, ơ trâu”...
    Dứt lời, chiêng trống nổi lên rộn rã, trai đánh chiêng, gái móc tay nhau thành vòng xoang theo ngược chiều kim đồng hồ quanh cột nêu buộc trâu.Những người đến tham dự đứng thành vòng ngoài quanh đoàn chiêng, đoàn múa. Âm thanh rộn ràng của trống chiêng, bước chân, bàn tay dịu dàng của các cô gái càng làm buổi lễ thêm sôi nổi và náo nhiệt.
    Thày cúng ra hiệu , đội múa tản dần, nhập vào với vòng người phía ngoài. Một số chàng thanh niên khoẻ mạnh, giỏi giang săn bắn trong buôn đã được lựa chọn trước cầm theo lao, đao, hoặc kiếm, xàgạc...tiến vào. Nhóm này dẫn đầu đội chiêng trống, vừa múa vũ khí, vừa đi vòng tròn quanh cột để lừa dịp đâm trâu.
    Nếu người được cắt cử đâm trâu chính khéo léo, giỏi giang, đâm một nhát dao hoặc kiếm vào trúng tận tim trâu, con vật quỵ xuống chết liền, đó được coi là một trong những điềm báo may mắn cho cả cộng đồng.Buôn làng ( hay gia đình) sẽ được mạnh khoẻ, làm ăn thuận lợi,dân làng hò la cổ vũ rất nhiệt liệt.
    Trường hợp đâm chưa trúng, nhóm người kế tiếp sẽ vung dao, xagac chặt vào khuỷu chân trái sau của con vật, tiếp đó là khuỷu sau của chân phải, để con vật không chạy được nữa, mà chỉ lết quanh cột nêu mà thôi.Nhóm đao kiếm vẫn tiếp tục nhảy múa vòng tròn, đâm chém cho đến khi con vật ngừng thở.Ở một số vùng, sau khi chém khuỷu chân sau để con vật quỵ xuống, người ta sẽ mang nó ra phía sau để hoàn tất các thủ tục cuối cùng cho con vật chết hẳn.
    Khi con trâu tắt thở, thày cúng mang một chiếc nồi đồng nhỏ đến hứng lấy huyết trâu, hoà với rượu cần để thành một thứ như “ nước phép” đặt lên bàn thờ cùng đầu, đuôi, tai, mũi...để thần linh ban phép. Rượu hoà huyết sau đó sẽ được bôi lên quẻ âm dương để xem bói. Những trung niên trong buôn làng có nhiệm vụ xẻ thịt trâu để cả làng ( hoặc gia đình) ăn uống.
    Sau khi hoàn tất các lễ thức,tất cả hoà vào vòng múa xoang . Chán chê lại cùng nhau ¨n uống, có khi keó dài tới 6-7 ngày mới dứt.Có vùng đâm một trâu, nhưng cũng có vùng ăn một lúc nhiều trâu. Năm 1964, người Jẻ ở xã Đăk Sút đã đâm 12 con trâu trong một lễ cúng.
    Người Chu Ru ở Lâm Đồng còn có thêm lễ tiễn đưa ông bà ở trên đỉnh nêu nữa, rồi mới kết thúc lễ hội.
    Người Stiêng dựng cột đâm trâu bằng cây lồng mứt gỗ mềm, dễ đẽo gọt, thớ gỗ trắng dễ vẽ hoa văn. Trong lúc một người đâm trâu thì nam nữ vẫn múa vòng quanh theo nhịp giã cối. Có hai đôi nam nữ chưa vợ chồng đứng giã giữ nhịp cho múa.
    Cách đâm trâu của người Hrê :
    Chuẩn bị cho lễ ăn trâu, thày cúng , già làng và một số đàn ông phải bói tìm địa điểm dựng nêu.Thường thì họ dựng cột nêu ở trong rừng, hoặc ở chỗ đường rẽ vào buôn. Sau khi đã tìm được địa điểm, thày cúng lấy một cục đất lớn để tại đó làm dấu. Các già làng mỗi người xúc một xẻng đất đắp lên đó. Nhóm đàn ông đi theo đào hố ở đó trồng cột nêu, Người dựng cột là thày cúng và các già làng.
    Cây nêu của người Hrê giống với một số tộc người khác ở Tây Nguyên, thường là cây tre dài khoảng 4-5m, xung quanh thân tre vẽ nhiều hoa văn các màu. Ngoài cột nêu, họ cũng trồng xung quanh 4 cột khác cao chừng 2m để buộc trâu.
    Trước khi đâm trâu, những người dựng cột nêu cúng Yang bằng một lễ vật nhỏ : heo, gà, ngỗng...Cúng xong, họ ăn uống tại chỗ , nhưng chừa lại một ít đồ ăn,bỏ tại những ngả đường rẽ vào làng, cho ma quỷ ăn, để đừng theo người về làng quấy phá.
    Tiến hành đâm trâu, dân làng nhảy múa theo nhịp chiêng trống, đi vòng quanh cây nêu.Thày cúng đứng gần cây nêu dùng chân gà để bói. Khi thấy có biểu hiện các yang đã về tham dự, thày cúng sẽ dùng kiếm hoặc lao đâm vào họng trâu, lấy nồi đồng hứng huyết . Sau đó các phụ lão trong làng đâm tiếp theo, cuối cùng là các thanh niên, cho đến khi con vật tắt thở. Huyết trâu được dùng bôi lên cột nêu và dàn chiêng trống. Con trâu mổ thịt, lấy một chân trước, một chân sau, một con mắt, một tai, một sừng ,lưỡi , đuôi, một miếng thịt và một ít lòng, đặt lên bàn cúng các vị thần linh, cùng với một đôi đũa cũng đã được bôi huyết trâu.
    Phần nghi lễ đến đây là xong. Mọi người ăn uống, ca hát, nhảy múa, kể chuyện xưa...Cho đến khi hết rượu thịt thì giải tán.
    Có nên duy trì lễ đâm trâu ?
    Đây là một câu hỏi đã được nhiều người, nhiều lần đặt ra, nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai đưa ra một câu trả lời chính thức nào.Có một số luồng ý kiến khác nhau về việc không nên tiếp tục duy trì các lễ đâm trâu ở Tây Nguyên.Các nhà bảo vệ động vật hoang dã xếp con trâu vào loại cần được bảo vệ. Số khác thì cho rằng “ con trâu là đầu cơ nghiệp” của nhà nông, chúng ta vẫn còn đang thiếu sức kéo, không nên lãng phí như vậy. Số khác lại lên án đây là một tập quán dã man, cần phải loại bỏ...vv...
    Theo thiển nghĩ của chúng tôi : dù khoa học có tiến bộ đến đâu thì con người, bất cứ là dân tộc, hay cư trú ở địa bàn nào, cũng vẫn luôn luôn cần có một chỗ dựa về tâm linh.Người theo đạo Cơ đốc thì tin vào Đức Chúa Jêsu, người theo phật giáo tin ở Đức Phật Tổ Như Lai và Quan Âm Bồ Tát. Đạo Hồi, đạo Hoà Hảo, đạo Bà La Môn...có ở mọi nơi, chỉ để thoả mãn nhu cầu tâm linh của con người.Mỗi tôn giáo có luật định,đức tin và tín đồ riêng của mình,đều phải được tôn trọng.
    Người Tây Nguyên cũng vậy. Từ thuở ban sơ, do không lý giải được những hoạt động của thiên nhiên, mà người Tây Nguyên cổ đại tin có những thế lực siêu linh tồn tại, dẫn đến phải thờ phụng, cúng bái nhiều vị thần linh, để được yên ổn và may mắn trong sản xuất, trong đời sống cộng đồng.Tín ngưỡng “ đa thần” xuất hiện từ đó.
    Hệ thống các thần linh của người Tây Nguyên cổ xưa đông đảo và có tâm sinh lý không khác gì con người, có đủ mọi tình cảm hỷ xả, ái nộ, có thần tốt có thần xấu. Do đó nếu không được cúng kiếng đầy đủ, dễ dẫn đến việc các thần nổi giận.Tuỳ theo công việc mà cầu xin và dâng tặng lễ vật lớn nhỏ. lễ bao giờ cũng phải có ghè rượu và con thịt.Ít thì một con gà, một ghè rượu nhỏ. Nhiều là vài ché, thậm chí hàng chục ché lớn nhỏ, cùng với con thịt lớn hơn như heo, bò...Trong số các vật hiến sinh được lựa chọn để dâng tặng, con trâu được coi là lễ vật lớn nhất và thanh sạch nhất. Khác với voi và bò, trâu ở Tây Nguyên có nhà nuôi hàng đàn, nhưng chỉ để làm vật hiến sinh cho các lễ thức, không được dùng trong bất cứ một việc gì khác, dù chỉ là để làm sức kéo.
    Đồng bào sợ nhất khi làm lễ đâm trâu mà con vật không chết, lại bứt dây chạy vuột. Đó là điềm xấu cho buôn , bon, kon, plei ( hay gia đình), báo hiệu mùa màng có thể bị thất thu. Những dũng sỹ trong đội đâm trâu lập tức bị loại, chọn người khác thay thế.
    Đây hoàn toàn không phải là hình thức thể hiện tính thượng võ của người Tây Nguyên, như một số nhà báo đã bình, mà họ chỉ cần lựa chọn những người mạnh khoẻ, khéo léo, có tài săn bắn, để đảm bảo việc đâm trâu được hoàn tất, không xảy ra sự cố mà thôi.
    Do tính cộng đồng trong sinh hoạt ở đời sống mọi vùng trên Tây Nguyên rất đậm, nên các lễ thức thường gắn liền với hội ( trừ các lễ quá nhỏ của một gia đình). Bởi đây không chỉ là dịp cầu xin hay tạ ơn các thần linh, mà còn trả nghĩa cha mẹ già, dịp gặp gỡ dòng họ, gia đình, bè bạn...nên giữa các phần nghi lễ, thường có những quãng thời gian thư giãn. Sự xuất hiện của nghệ thuật diễn xướng ca múa nhạc dân gian, các hình thức vui chơi, nhất là hát-kể trường ca, cổ tích, là nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí tinh thần của con người, là yếu tố để lễ trở thành hội. Đâm trâu chỉ là một trong những nghi thức nằm trong các Lễ - Hội, chứ không hề tồn tại một “ lễ hội đâm trâu” như có người vẫn nhầm gọi.Tuy nhiên, đa số các tộc người Tây Nguyên hiện nay đã chuyển đối tín ngưỡng, từ đa thần sang độc thần. Do sự chuyển đổi này mà hình thức ăn trâu có cúng Yang của Tây Nguyên chắc chắn sẽ mất hẳn
    Vậy có nên tôn trọng tín ngưỡng riêng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, như nó đã vốn có không? Câu trả lời chắc chắn là : Nên !Tuy vậy, mọi tín ngưỡng nếu giáo điều đều dẫn tới sự mê tín, dị đoan, thậm chí là mê muội. Do đó :
    - Cần có sự hướng dẫn , loại bỏ dần những yếu tố mê tín, gìn giữ lấy những nét tinh hoa trong phong tục tập quán riêng của mỗi vùng, mỗi tộc người.Ví dụ : nếu trước đây lễ hội kéo dài 6-7 ngày, thì nay chỉ nên duy trì 1-2 ngày mà thôi. Cần giảm bớt những lễ thức rườm rà, tăng phần hội, tạo môi trường diễn xướng cho mọi hình thức văn nghệ dân gian cổ truyền được phát huy. Từ 2-3 năm một lần, tổ chức luân phiên mời các cộng đồng lân cận, để giao lưu và tăng thêm phần hội vui trong vùng .
    - Một số lễ trọng của cộng đồng, nên duy trì như một ngày hội truyền thống của điạ phương ( như lễ cúng bến nước, uống nước giọt vào những dịp cuối hay đầu năm, ăn cơm mới sau khi thu hoạch xong mùa vụ, lễ bắt đầu vào mùa sản xuất như cầu mưa, dọn rẫy...). Những lễ của gia đình như chúc thọ người già, thổi tai hay đặt tên cho trẻ sơ sinh, cắt việc hay lễ cưới hỏi cho thanh niên đến tuổi trưởng thành, bỏ mả cho người đã khuất...Cũng nên khuyến khích bà con duy trì, với hình thức là nét đẹp văn hoá dân tộc và tiết kiệm.
    Tuy nhiên, là kể lại và kiến nghị “ cho vui ” , cho đỡ nhớ không khí lễ hội vậy thôi, chứ ngày nay ở Tây Nguyên, khó lòng mà có được một lễ “ ăn trâu” theo phong tục cổ truyền nữa. Bởi các lễ nghi đó đâu còn là nhu cầu của cộng đồng. Nếu có “ Lễ đâm trâu” có khi lại chỉ là theo đề nghị của “ ai đó”, trình diễn cho mọi người xem chơi để …….thu tiền mà thôi.

    Bình luận

    Bài viết cùng loại

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    ÂM NHẠC DÂN GIAN Ê ĐÊ DRAO

    Lễ hội cộng đồng Tây Nguyên

    Khôi phục môi trường diễn xướng Tây Nguyên, khó khăn, nhưng là việc cần làm

    Nghệ thuật diễn xướng Tây Nguyên

    Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng

    Luật tục TN với môi trường sinh thái

    Lễ Chrai của người Mnông Gar

    Bó củi hứa hôn của cô gái Jẻ

    Lễ hội Tăm nghét

    Những trò chơi dân gian Tây Nguyên

    Lễ xoay cột cầu mùa

    Độc đáo kiến trúc nhà Tây Nguyên

    Thủ thỉ thù thì đinh tút Jẻ ,Triêng

    Bì bộp mùa rẫy Klông put

    Ẩm thực K"ho

    Đám cưới Mnông Rlâm

    Ấm nồng làn điệu dân ca Cor

    Gạo nếp với người dân làng Típ

    Rực cháy một màu hoa!

    Luật tục Tây Nguyên với gia đình & hôn nhân

    Vài nét về tộc người Pu Noong Preh

    Văn hoá truyền thống Tây Nguyên trong ổn định & phát triển

    Đôi điều về người Bih ( Êđê Bih?)

    Đôi điều về nhà Rông

    Kể vài điều về nhà mồ Tây Nguyên

    NGhề săn bắt và thuần dưỡng Voi ở Buôn Đôn

    Áo vỏ cây

    Nghề dệt vải

    Vài nét về tộc người Mnông

    Vấn đề " GIà làng" ở Tây Nguyên